Subscribe:


Thứ sáu, ngày 16 tháng ba năm 2012

Nhà văn Phạm Viết Đào blog thế sự - văn chương .net

Nhà văn Phạm Viết Đào blog thế sự - văn chương .net


CẦN XÂY DỰNG CÁC TRUNG TÂM NĂNG LƯỢNG THU HÚT NGUYÊN KHÍ QUỐC GIA

Posted: 16 Mar 2012 06:02 AM PDT


– CỐT LÕI PHỤC HƯNG SỨC MẠNH DÂN TỘC


Một con người mạnh hay yếu không phụ thuộc nhiều vào của cải vật chất mà chủ yếu nhờ khí độ tinh thần, sức mạnh tâm lý và sự sung mãn nghị lực. 
Một dân tộc hay một đất nước cũng vậy, Sức khỏe mạnh hay suy nhờ môi trường sống thanh lành, môi trường văn hóa tinh thần được sống động và những giá trị tâm lý được thăng hoa tươi tắn... 
Để có được sức mạnh cộng đồng, có hào khí sung mãn, cần phải giao cảm, lấy được nguyên sinh khí từ Thiên lý, "đào sâu cuốc bẫm" nguồn tài nguyên từ ruộng phúc Địa lợi và khơi dậy ý chí cao thượng từ nhân tâm: 

- Muốn được Thiên phù, phải biết cách đồng thuận thiên nhiên, hưng khởi đạo lý Kính Thiên;

- Muốn được Địa trợ phải biết tri ân cội nguồn, rộng mở địa tâm để cho truyền thống được trôi chảy, giao duyên và trợ lực;

- Muốn được nhân tâm hòa hợp, phải biết an dân, lấy lòng thiên hạ !

 TS. Hồ Văn Khánh
Viện Hóa học, Viện Khoa học & Công nghệ Việt Nam

            1. Đặt vấn đề:

            Sự sống tồn tại nhờ Nguyên sinh khí vũ trụ, phong thủy và tâm hồn. Mỗi cộng đồng cho đến dân tộc (và cả nhân loại) được sống trong thái bình, an ổn nhờ Nguyên sinh khí thiên lý ban rải, đặc thù địa lợi hứng khởi và sức mạnh văn hóa tinh thần được hưng vượng. Sức mạnh hay Khí độ Văn hóa tinh thần là sự giao hòa giữa Nguyên Khí Trời Cao + Sinh lợi Đất Dày + Lòng Người Hòa Khí rạng rỡ mà khí lực Nhân hòa là cốt lõi để linh thông, cảm ứng hòa giao với Thiên Địa.

            Mỗi chúng sinh cho đến quốc gia đều có một trường năng lượng sinh học, đó là biểu hiện sinh động của sức mạnh tinh thần, lối sống hòa hợp và sự thăng hoa tâm thức. Trường năng lượng sinh học chính là hệ miễn dịch của cơ thể. Khi trường năng lượng này khỏe mạnh, trong sạch thì hệ miễn dịch tạo thành bức tường thành hay hàng rào vững chãi, bất khả xâm phạm. Ngược lại, khi khí lực yếu, hệ miễn dịch bị thâm thủng thì "nội công ngoại kích", cuộc sống khổ nan.

            Việt Nam nằm ở vị trí giao hòa giữa hai nền đại văn hóa giải thoát Ấn Độ và tinh thần nhập thế Trung Hoa. Ông cha ta đã khởi lên tấm lòng "Hòa khí là phú quý" và trí tuệ "Biết điều khinh trọng, biết lời phải chăng" để vừa hấp dẫn khí chất tự nhiên, vừa tận dụng năng lực, chắt lọc những tinh túy đó vừa làm phong phú bản sắc địa văn hóa. Đất nước hình chữ S này được Sung Mãn, Sung Sướng nhờ Sinh khí Đất trời nở hoa Sung khí Hùng Vương, Sung lực Lý Trần, Sung túc Tam giáo đồng nguyên để vươn tỏa những đài Sen tươi thắm, ngát hương, tạo nên Sùng phúc tưới tắm cho lòng người và là nguồn cảm hứng bất tận cho muôn đời "Văn vô sơn thủy vô kỳ khí/ Nhân bất phong sương vị lão tài".

            Chính sức mạnh văn hóa tinh thần đó là sung khí để cung ứng sinh khí cho dân tộc "Thương vì hạnh, trọng vì tài", tưới tắm cho "Cỏ cây chen lá đá chen hoa" và là nguồn năng lực truyền kỳ "Cho ngày nay, cho ngày mai, cho muôn đời sau". Chính năng lực tinh thần là môi trường trong trẻo, tinh anh và huyền diệu nhất để cho mọi thành viên được hạnh phúc. Chính đó cũng là hệ miễn dịch khiến cho đời sống dân tộc được hài hòa, ổn định, tinh tiến và thăng hoa. Đó cũng là bộ áo giáp vạn năng phòng chống những mầm mống xâm nhập "khác màu kẻ quý người thanh". Đó cũng là đôi dép thần kỳ để bất cứ ai đi trên nó cũng hội nhập được vào giá trị đích thực của chân lý cuộc sống.

            Ngày nay, trong xu hướng quốc tế hoá mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội, sự giao thoa tư tưởng trí tuệ, văn hóa và văn minh làm cho cuộc sống trở nên phong phú, đa dạng nhưng cũng vô cùng mong manh, bất trắc, ảo tưởng. Sự giao thoa xô bồ dễ làm nhạt nhòa những giá trị bản địa, làm suy yếu môi trường sống. Cơ chế thị trường thực dụng và lối sống "râu ông nọ cắm cằm bà kia" càng làm cho mặt trái có cơ hội bùng lan khiến "Ngày vui ngắn chẳng tày gang/ Trông ra ác đã ngậm gương non đoài". Cho nên, phong dáng chữ S vốn giàu Sinh khí, chất Sung mãn, huyền ảo Sâu Sắc đã bị Suy giảm nguyên khí, Suy kiệt thiên nhiên và Suy yếu tinh thần do định hướng Sai lệch nhận thức, Sa đọa vào chủ nghĩa tầm thường, ý chí nghị lực bị Sa sút. Sự ưu tiên phát triển kinh tế và chủ nghĩa duy lý đã và đang tàn phá môi trường thiên nhiên, bùng nổ dân số, gây ra ngày càng nhiều thảm họa về môi trường, khí hậu và suy thoái đạo đức.

2. Cơ sở khoa học:

Mọi dạng sống đều có một trường năng lượng sinh học (hay từ trường sinh học). Trường năng lượng này giao cảm, dung thông với Nguyên sinh khí vũ trụ để cho đặc tính loài (hay bản năng tự nhiên) được duy trì, trường thành và có một vị trí "đắc địa" trong cuộc sống phổ biến. Sự giao cảm giữa cá thể sống với nguyên khí vũ trụ thông qua các huyệt hội, luân xa và được điều dẫn trong cơ thể bằng các hệ kinh mạch.

Con người, hình thái sống cao cấp nhất trên Trái đất có nhiều khả năng, cơ hội thăng tiến, hướng thượng và hạnh phúc hơn các dạng sinh vật khác ở tấm lòng rộng rãi, trí tuệ nhân bản. Bởi vậy, họ đã để lại bao kiệt tác di sản, bao công trình kỳ vĩ và vô số đường lối tu dưỡng thể hiện tinh thần vươn lên, tiếp cận Chân Lý.

Trong lịch sử văn hóa nhân loại, đã có vô số tấm gương cầu thị, hướng tâm tới thiên lý, trải lòng đến vạn vật mà trở thành các bậc Đại nhân, Đại đức, Thánh hiền, danh nhân văn hóa, Hiền tài...

Đồng thời có rất nhiều thời đại, chế độ, dân tộc – bằng sự nhất tâm cảm ứng, nỗ lực dung thông với Thiên Địa – đã tạo ra cuộc sống thái bình hoặc làm nên những chiến tích thần kỳ, đặc biệt trong những thời khắc nhạy cảm, nước sôi lửa bòng.

Đức tin thánh thiện, sự nỗ lực cầu thị cùng với công phu tu dưỡng đã cứu giúp nhiều người - trong tình trạng bệnh tật vô phương cứu chữa – tìm được ánh sáng rực rỡ, nguồn năng lực kỳ diệu ở cuối đường hầm.

Ngược lại, những con người, chế độ "nghịch tử" với quy luật phổ biến, "Có tài mà cậy chi tài/ Chữ tài cùng với chữ tai một vần", không được lòng người đều bị nghiền nát dưới bánh xe lịch sử, để lại vết nhơ văn hóa cho muôn đời.

Ngày nay, người văn minh quá tự tin vào khả năng bản thân mà "Chọc trời, khuấy nước mặc dầu/ Dọc ngang nào biết trên đầu có ai" nên xa cách thiên lý, nhạt nhòa bản sắc văn hóa truyền thống. Sự du nhập những luồng văn hóa lạ dòng đã khiến cho cuộc sống, những giá trị văn hóa bị méo mó, biến dạng.

Hậu quả của công cuộc phát triển bằng phương tiện kinh tế, tư tưởng duy lý thực dụng, tấm lòng cạn hẹp, ích kỷ vô cảm đã gây nên bao thảm họa khôn lường mà chúng ta đã, đang và sẽ còn phải chứng kiến.

Sự tàn phá môi trường, sự hưởng thụ thái quá đời sống vật chất đã làm suy mạt tinh thần, đạo đức cũng như sức khỏe thể chất. Sự cạnh tranh, xâm lấn giữa các thế lực, quốc gia, tôn giáo khiến cho công cuộc toàn cầu hóa chỉ làm cho cuộc sống thêm phần căng thẳng, bất an, mệt mỏi.

Trước bối cảnh đó, việc hưng long sức mạnh văn hóa, khôi phục đức tin thánh thiện, tạo nên môi trường trong lành và lấy lại sinh lực cho con người có ý nghĩa quyết định "Cuộc sống đích thực của con người là văn hóa tinh thần".

Có nhiều cách để làm lành mạnh hóa cuộc sống, làm thịnh vượng quốc gia mà cốt lõi là làm sao thăng hoa tâm thức, tươi tắn thái độ và rộng rãi tâm lòng. Để làm được như vậy, việc thu liễm nguyên khí vũ trụ, giao thoa cộng hưởng giữa nhân tâm "tiểu vũ trụ" và thiên địa "đại vũ trụ" có ý nghĩa quyết định.

3. Đặc trưng của năng lượng nguyên khí và các biểu hiện cụ thể:

Sự sống được sinh ra bởi năng lượng chân tâm, nguyên khí VŨ TRỤ. Năng lượng này có ba đặc tính: Không (không chấp, vô ngã, vượt ra mọi cảm thức tâm lý thông thường), trong sánghỷ lạc (an vui, mát lành, tươi trẻ) hoặc "Chân – Thiện – Mỹ'.

Biểu hiện cụ thể của năng lượng ở ba cấp độ: Tinh (tinh hoa, tinh anh, tinh túy) – Khí (khí chất, khí độ, khí lực) và Thần (Thần thái, thần sắc). Tùy vào trạng thái tâm thức mà có thể biểu cảm không giống nhau.

Năng lượng vũ trụ tràn ngập, tưới tắm mọi dạng tồn tại từ hữu hình đến vô hình, từ các dạng sống hữu cơ đến dạng tồn tại vô cơ.

Các bậc tu hành chân chính, các nhà nghiên cứu thực hành tâm linh, tâm lý bậc cao, những hiền nhân sơn dã, cao niên minh triết... là những người có khả năng cộng thông, cảm ứng, tụ hội nguồn năng lượng siêu việt đó theo hướng tích cực. Mỗi đất nước, khu vực có đặc thù "địa văn hóa" không giống nhau do có những địa thế phong thủy, vị trí địa lý khác nhau. Cũng như con người (có huyệt hội, luân xa), mỗi khu vực cũng có điểm huyệt hội tụ linh khí (đất lành, địa linh). Nếu biết cách hấp thu, khai thác các long mạch, điểm huyệt này sẽ tạo nên những Trung tâm năng lượng (hay Trung tâm Lực) có giá trị to lớn cho đời sống nhân sinh.

 

            I4. Biện pháp cải thiện tình hình: Xây dựng các Trung Tâm Năng lượng thu hút Nguyên khí.

            "Muốn nên sự nghiệp lớn/ Tinh thần càng phải cao" (Hồ Chí Minh). Một con người mạnh hay yếu không phụ thuộc nhiều vào của cải vật chất mà chủ yếu nhờ khí độ tinh thần, sức mạnh tâm lý và sự sung mãn nghị lực. Một dân tộc hay một đất nước cũng vậy, Sức khỏe mạnh hay suy nhờ môi trường sống thanh lành, môi trường văn hóa tinh thần được sống động và những giá trị tâm lý được thăng hoa tươi tắn. Để có được sức mạnh cộng đồng, có hào khí sung mãn, cần phải giao cảm, lấy được nguyên sinh khí từ Thiên lý, "đào sâu cuốc bẫm" nguồn tài nguyên từ ruộng phúc Địa lợi và khơi dậy ý chí cao thượng từ nhân tâm. Muốn được Thiên phù, phải biết cách đồng thuận thiên nhiên, hưng khởi đạo lý Kính Thiên. Muốn được Địa trợ phải biết tri ân cội nguồn, rộng mở địa tâm để cho truyền thống được trôi chảy, giao duyên và trợ lực. Muốn được nhân tâm hòa hợp, phải biết an dân, lấy lòng thiên hạ.

            Trong ba yếu lĩnh Thiên Địa Nhân, Thiên lý có sức mạnh vĩnh hằng, phổ biến, vạn năng. Địa lợi là biểu hiện cụ thể của Thiên lý dưới dạng tiết khí, môi trường và phong thủy. Nhân hòa chỉ rõ khả năng hòa hợp, giao hòa, hòa phối để tạo nên Hòa khí của nhân tâm với Thiên Địa. Tùy thuộc trạng thái tâm thức cao thấp mà người ta có thể thăng hoa, hùng khí, hướng thượng hay trì trệ, sa ngã, yếu kém. Cho nên để cải thiện trạng thái tâm địa của con người, tạo nên những khung cảnh "sông nước chảy, núi mây bay" "như tranh họa đồ", cần phải biết thu hút nguyên sinh khí từ vũ trụ, đoàn kết nhân tâm theo định hướng nhân văn cao cả.

            Để hấp thu nguồn Nguyên khí vô tận, đồng thời để khơi dậy niềm tin vào cuộc sống hiền lương, thánh thiện, thu hút "nguồn tình đâu có đầy vơi bao giờ" từ trong cuộc sống phổ biến cũng như trong lòng dân, tạo nên sức mạnh tập thể, tạo nên bức tường thành kỳ diệu, cần thiết phải xây dựng các Trung Tâm Năng lượng thu hút Nguyên khí ở các địa phương có vị trí "đắc địa".

            5. Đia điểm, kết cấu kiến trúc và vật liêu xây dựng cho Trung tâm Năng lượng Nguyên khí tại Hà Nội:

            Sơ đồ cấu trúc: Lấy cấu trúc Mạn đà la Mật tông (Đồ hình vũ trụ theo phong cách Phật giáo Mật tông) làm sơ đồ thiết kế, phối cảnh.

            Cấu trúc tổng thể: hình vuông hay hình tròn.

            Kích thước: Nếu mạn đà la cấu trúc hình vuông, kích thước mỗi cạnh là 1,08km. Nếu cấu trúc hình tròn, đường kính cũng là 1,08km

            Dưới đây là Sơ lược một đồ hình cấu trúc có thể được lựa chọn:

Mỗi một vòng tròn nhỏ có thể là một mạn đà la tượng trưng cho đặc trưng trí tuệ cụ thể của vị Phật đó.

            
Vật liệu xây dựng: kết hợp các loại vật liệu như gạch, gỗ, đá, kim loại đồng, vàng, bạc...

Mỗi một vòng tròn nhỏ có thể là một mạn đà la tượng trưng cho đặc trưng trí tuệ cụ thể của vị Phật đó.

            Vật liệu xây dựng: kết hợp các loại vật liệu như gạch, gỗ, đá, kim loại đồng, vàng, bạc...

            Chiều cao: Phần tháp tượng cao nhất có thể là 108m x n với n có thể là 1, 2, 3... tùy theo khả năng xây dựng.

            Địa điểm: Lựa chọn những vị trí đắc địa, tụ khí. Tại Hà Nội: Khu vực phía Tây Hồ Tây là rất thích hợp:

- Tạo với Ba Vì, nơi Tản Viên Sơn Thánh ngự và Tam Đảo Tây Thiên một thế chân vạc kiềng ba chân vững chắc. (Thậm chí, nơi đây còn có thể là Trung tâm của Tứ huyệt: Ba Vì, Tam Đảo, đền thờ Thủy Tổ Kinh Dương Vương ở Thuận Thành, Chùa Hương Tích)

- Cạnh Hồ Tây, một khu vực tâm linh linh thiêng, một hồ bát bảo thu hút nguyên khí cực diệu.

            Nguồn tài chính: kêu gọi sự trợ lực, công đức và đóng góp của toàn thể nhân dân và các cơ quan, tổ chức trong và ngoài nước.

            6. Chủ trì điều phối và Phương thức hoạt động:

            Chủ trì điều hành:Giáo hội Phật giáo Việt Nam hoặc một Hội đồng bao gồm một số Cao tăng, Đại Đức, bậc Chân tu, Hiền Tài kết hợp với một sô viện nghiên cứu văn hóa, tâm linh và chính quyền.

            Phương thức hoạt động:

            Phần trung tâm (dành cho số ít tinh hoa): Tổ chức các kỳ chuyên tu miên mật liên tục với sự tham gia của các vị cao tăng, chân tu, các vị có tấm lòng Bồ Tát, có trí tuệ cao thượng để cảm ứng mật diệu năng lượng Vũ trụ.

            Phần bên ngoài (dành cho đại chúng): là nơi giảng pháp, tổ chức hướng dẫn tu dưỡng và là nơi tham quan, nghỉ ngơi, tĩnh dưỡng.

BÍ MẬT LỊCH SỬ: TRẬN CHIẾN TRANH BIÊN GIỚI VIỆT-TRUNG LẦN THỨ 2

Posted: 16 Mar 2012 03:58 AM PDT

Từ 1984-1989. Giao Tranh Tại Cứ Điểm 211 (A6B) 

 haèng ñeâm caêng thaúng cho ñeán khi khi maët trôøi moïc thì môùi bieát mình ñaõ soáng qua ñöôïc 1 ngaøy…. 

 

Quân Trung Quốc tiến chiếm Núi Đất 1509 (Lão Sơn)

Hình trích từ mạng Zhangli

Lính Trung Quốc tử thương tại Núi Đất 1509 (Lão Sơn)

Hình trích từ mạng Zhangli

Núi Faka (chưa biết tên tiếng Việt)  nằm gọn trong bày tay Trung Quốc

Hình trích từ mạng zhangli

Trong đợt tấn công đầu tiên vào những năm 1984, quân Trung Quốc đánh và chiếm được các cứ điểm 1509 (Lão Sơn), 1030, 1800, 852, và 211 ở vùng suối Thanh Thủy, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Tuyên, cùng với Núi Bạc ở huyện Yên Minh, tỉnh Hà Tuyên. Sau đó quân Trung Quốc, thừa thắng tràn xuống bình độ 1200, nhưng bị bộ đội cộng sản chặn lại được ở bình độ này.

Vào ngày 31 tháng 05, 1985, bộ đội cộng sản VN quyết định tấn công để chiếm lại cứ điểm 211. Cuộc phản kích này kéo dài từ ngày 31 tháng 05, 1985 đến ngày 3 tháng 06, 1985 thì chấm dứt. Qua việc đo chiếu tài liệu giữa Trung Quốc và Việt Nam, cứ điểm 211 chính là cứ điểm A6B được ghi chép trong các bản báo cáo hành quân của phía bộ đội Việt Nam. Cứ điểm 211 (A6B) là mõm núi cao 200m.

Trên mõm núi, quân Trung Quốc chia ra làm ba khu vực. Theo bản báo cáo trận phản kích tái chiếm cứ điểm 211 (A6B) thì phía bộ đội VN tái chiếm được 2 khu vực, riêng khu vực thứ ba  thì không thấy nhắc đến  Trong khi đó thì theo tài liệu của  Thiếu tướng Nguyễn Đức Huy, nguyên quyền Tư lệnh Quân khu 2 - thì  đầu năm 1984, mặt trận tại đây gặp khó khăn, Nguyễn Đức Huy được điều lên làm Phó Tư lệnh, tham mưu trưởng Quân khu 2, trực tiếp là Tư lệnh mặt trận Vị Xuyên. Lúc đó đã là Thượng tướng nhưng Huy vẫn trực tiếp theo dõi chỉ đạo một trận nhỏ là trận giành lại A6b, trận này theo tài liệu của Nguyễn Đức Huy thì cuộc phản kích thành công và cứ điểm A6b được giữ vững cho đến khi kết thúc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc (1990).

Riêng hồi ký của một bộ đội Trung Quốc tham dự trận đánh ở cứ điểm 211, kể lại rất chi tiết cuộc giao tranh đẫm máu của hai bên, nhưng bản hồi ký này không ghi lại diễn tiến sau ngày 1 tháng 06, 1985, nên đến nay không chắc chắn được là khu vực thứ ba của mõm núi 211 (A6B) vẫn còn nằm trong tay của Trung Quốc hay Việt Nam đã chiếm lại.

Trong bốn ngày giao tranh, phía Trung Quốc có 21 lính tử thương, 81 bị thương, một bị bắt, và phía Việt Nam mất khoảng 300 quân.

Chúng tôi xin trích ra hai tài liệu liên quan đến trận phản kích ở cứ điểm 211 (A6B) để bạn đọc theo dõi. Tài liệu Việt Nam được trích từ mạng Trái Tim, và bản nhật ký của một người lính Trung Quốc ghi lại trận 211 trích từ mạng Quốc Phòng Trung Quốc. Những hình ảnh trong bài này được trích từ mạng Quốc Phòng Trung Quốc.

TRẬN PHẢN KÍCH Ở CỨ ĐIỂM 211 (A6B) NHÌN TỪ PHÍA VIỆT NAM

 TRẬN TIẾN CÔNG A6b (VỊ XUYÊN - HÀ TUYÊN)

của đại đội 5, tiểu đoàn 5, trung đoàn 567, sư đoàn 322, quân đoàn 26 Quân khu 1. Ngày 31-5-1985.

ĐỊA HÌNH

Mỏm A6 thuộc sườn đông dãy núi đá 400 (cao khoảng 200m), cách biên giới Việt Trung (mốc 12-13) khoảng 1,5km về phía đông nam.
Tiếp giáp về phía đông A6 có đồi đá Pháp; từ đông bắc sang tây bắc có đồi Đài, đồi Cô X, đồi chuối, đồi Cây Khô, mỏm A5, A23; phía tây mỏm A22 (A6 cách các mỏm trên khoảng 200-300m); phía nam có hang Gió (cách 200m), hang Dơi, hang Mán, hang Làng Lò (500-100m) thuận lợi cho giấu quân.
Mỏm A6 là núi đá tai mèo không liền khối, rộng 70m, dài 130m, phía đông và tây dốc gần như thẳng đứng, phía nam và bắc dốc thoài. Từ sườn nam sang tây bắc dốc thẳng đứng hình thành 2 tầng, khó phát triển khi tấn công (phải đi vòng sang đông nam). A6 gồm 2 mỏm, nối với nhau bằng một yên ngựa thấp, địch chiếm A6b, ta chiếm A6a cao hơn không đáng kể. Cây cối đã bị pháo 2 bên bắn trụi.

TÌNH HÌNH ĐỊCH

Từ tháng 4-1984 địch tiếp tục mở rộng phạm vi lấn chiếm sang đất ta nhưng bị chặn lại ở khu vực bắc suối Thanh Thuỷ.
Phòng ngự trực tiếp tiếp xúc với ta ở A6b-A5-đồi Chuối-Cây Khô là tiểu đoàn 2 và ở 400-233 là tiểu đoàn 1 thuộc trung đoàn 595 sư 199, quân đoàn 67 Đại quân khu Tế Nam của TQ. Sư đoàn 199 vào thay phiên từ 18-5-1985 vẫn lấy phiên hiệu đơn vị phòng ngự cũ là sư đoàn 40 quân đoàn 14 Đại quân khu Tế Nam.
Địch bố trí phòng ngự ở A6b như sau :
Phía nam : ổ số 1 có 3-4 tên. Ổ số 2 có 4-6 tên. Ổ số 3 có 3-4 tên, có 1 trung liên.
Phía bắc và đông bắc : ổ số 4 có 7-10 tên, trang bị 1 trung liên, 1 đại liên, 3 khẩu B41, 2 giá H12 ứng dụng mỗi giá 2 ống, 1 máy VTĐ, 1 ống nhòm hồng ngoại. Ổ số 5 có 4-5 tên, trang bị 1 trung liên, 1 khẩu B41, 1 giá H12 ứng dụng 2 ống. Ổ số 6 có 7-10 tên là sở chỉ huy đại đội, có 3 máy VTĐ, 1 ĐT.
Phía bắc và phía tây : ổ số 7 có 3-4 tên, trang bị 1 cối 60mm. Ổ số 8 có 4-5 tên. Ổ số 10 có 2-3 tên.
Trên đỉnh có ổ số 9, có 4-5 tên, trang bị 1 đại liên có tầm kiểm soát rộng, 1 B41. Ổ số 3 và 4 là ổ cảnh giới.
Tổng cộng địch có 40-55 tên, trang bị 2 đại liên, 4 trung liên, 5 B41, 3 giá H12 ứng dụng 6 ống. Mỗi ổ ngoài trang bị AK còn có hàng trăm lựu đạn, mìn, mặt nạ phòng độc, thiết bị thông tin...
Công sự của địch là bao cát hoặc xếp đá cao khoảng 0,4m, khoét lỗ bắn và thả lựu đạn. Bên ngoài công sự buộc lựu đạn giật nổ. Trước công sự 8-10m địch cài mìn ĐH dưới đất, trên cây, trên nhũ đá... phía tiếp xúc với ta gài mìn đè nổ và vướng nổ chống bộ binh cả loại chế sẵn và ứng dụng (nhét 6 thỏi TNT vào ống bơ và gắn bộ phận gây nổ).
Ban ngày địch hạn chế đi lại (có lúc phải bò), ban đêm phái 3 tổ cảnh giới ra phía tiếp xúc với ta, tung thám báo, biệt kích, tiếp tế cho A6b.
Trong quá trình chiếm đóng địch bị ta bắn tỉa, tập kích nên tinh thần binh lính đã xuống thấp.

Cứ điểm 211 (A6B) được đánh ký hiệu C trong hình nhìn từ điểm cao 1250

 O là A6A, Q là Cô ích, B 164 là Đồi Đài, D là 300 đá, E là 685, N là khu  A5, Cây khô và không tên. P,R: ĐÁ PHÁP 1 & 2 

THUNG LŨNG GIỮA HANG GIÓ VỚI ĐIỂM O - C CÒN GỌI LÀ THUNG LŨNG NHÀ TÔN HAY THUNG LŨNG GỌI HỒN, ĐỂ EM MAIL CHO BÁC ẢNH CHỤP 211 (A6B) NHÌN TỪ 300 ĐÁ. TRẬN PHẢN KÍCH CHIẾM LẠI 211 ( KHÔNG PHẢI LÀ ĐỒI CÔ ÍCH) NGÀY 31-5-1985. ĐIỂM CAO 211 TA CHIẾM 2/3 VÀ ĐỈNH CÒN TQ 1/3 PHÍA 300 ĐÁ ( CÒN CHÚT MÀU XANH CÂY CỎ)  

 Mặt trận cài răng lược, tiền duyên ta và địch vây lấn nhau

TÌNH HÌNH TAffffffkmkdvmk

Trung đoàn 567, sư đoàn 322 vào thay phiên từ 4-4-1985, lấy phiên hiệu trung đoàn 982, sư đoàn 313.
Phía ta, phòng ngự ở đồi Pháp, đồi Cô X, đồi Đài, A6a, 200, A21 tiếp xúc với địch là tiểu đoàn 4 và 6 của trung đoàn 567, sư đoàn 322, quân đoàn 26 Quân khu 1, tiểu đoàn 5 là lực lượng cơ động.
Để thực hiện đánh chiếm A6b, ta đã huấn luyện đại đội 4 tiểu đoàn 5. Nhưng từ 4 đến 7-5-1985, địch tấn công lấn chiếm trận địa ta, đại đội 4 được đưa vào phòng ngự. Nhiệm vụ được trao cho đại đội 6, trong quá trình triển khai, đại đội 6 gặp nhiều khó khăn, quyết tâm không cao, một số chiến sĩ bỏ ngũ... vì vậy cuối cùng nhiệm vụ đánh chiếm và chốt giữ lại A6b được giao cho đại đội 5.

Đại đội 5 tham gia chiến đấu 83 đồng chí (3 trung đội + 2 cối 60mm) trên tổng số 111 người, đại đội huấn luyện khá, quyết tâm cao, đoàn kết và kỉ luật tốt.
Đại đội 5 được tăng cường 1 phân đội trinh sát, 1 tiểu đội công binh, 1 tổ hoá học (4 người với 32 quả đạn M72 cháy), 1 tiểu đội vô tuyến điện có nhiệm vụ đánh chiếm A6b và chốt lại.
Nhiệm vụ :
Trung đội 1 : 21 đồng chí, tăng cường 3 công binh, 3 trinh sát, 2 hoá học, 2 thông tin (cộng 31 người), trang bị 5 B41, 1 B40, 2 M72, 27 AK, 6 quả MĐH10, 6 ống bộc phá. Chia làm 6 tổ (1 tổ dự bị) đánh từ hướng đông nam diệt ổ số 4, 5, phát triển diệt ổ 6, 9, chiếm sườn đông bắc A6b, chặn quân phản kích từ đồi Cây Khô và A5.
Trung đội 2 : 17 đồng chí, tăng cường 3 công binh, 3 trinh sát, 2 hoá học, 2 thông tin (cộng 27 người), trang bị 2 B41, 1 B40, 2 M72, 12 AK, 4 quả MĐH10. Chia làm 2 tổ đánh từ nam tây nam diệt ổ 1, 2, 3, phối hợp với trung đội 3 diệt ổ 7, 8, chiếm sườn tây nam A6b, chặn quân phản kích từ A22 (400).
Trung đội 3 (thiếu tiểu đội 9) : 14 đồng chí, tăng cường 3 công binh, 3 trinh sát, 2 thông tin (cộng 22 người), trang bị 3 B41, 9AK, 4 quả MĐH10. Chia làm 2 tổ, đánh từ tây bắc diệt ổ 7, 8, chiếm sườn bắc và tây bắc A6b, chặn quân phản kích từ A5, A22, A23.
Tiểu đội 9 : 13 đồng chí, tăng cường 2 thông tin (cộng 15 người), trang bị 1 B41, 1 B40, 8 AK bố trí ở phía đông A6a làm dự bị.
Đạn dược : B41 7 viên/khẩu, M72 8 viên/khẩu, AK 150 viên/khẩu, mỗi chiến sĩ trang bị 6 thủ pháo và 20 lựu đạn.

Cứ điểm 211 Trung quốc chụp từ phía 300 đá

 Em đóng ở vị trí 2 đấy

Hoả lực yểm trợ của tiểu đoàn 4 và 6 từ 5 điểm tựa xung quanh có nhiệm vụ kiềm chế đồi Chuối, Cây khô, A22, A23 gồm : 9 cối 60mm, 3 khẩu ĐKZ82, 17 B41, 4 khẩu 12,7mm, 3 khẩu MK19, 1 đại liên.
Hoả lực của cấp trên có : 20 súng cối 82mm của trung đoàn 567, 6 khẩu pháo 76,2mm, 19 khẩu pháo 105mm và 122mm.
Đại đội 6 tiểu đoàn 4 đảm nhiệm vận tải đạn, gạo, nước và thương binh tử sĩ.
Đại đội 11 tiểu đoàn 6 đảm nhiệm chuyển
gỗ, bao cát làm công sự.

 DIỄN BIẾN

Ngày 22-5-1985

Đại đội 5 vào tập kết ở hang Làng Lò cách A6b 1km.

Ngày 28 và 29/5/1985

Đại đội 5 triển khai ở A6a, hang Gió, Cây si, A21 đúng kế hoạch, an toàn. Trong quá trình trinh sát ta phát hiện thêm ổ số 10. Trong ngày hôm đó, tiểu đoàn 4 dùng ĐKZ bắn sang 400 diệt 6 công sự và 1 tổ cảnh giới của địch.

Ngày 30/5/1985

Địch ở A6b bắn súng cối sang A6a làm ta hy sinh 1 và bị thương 2 đồng chí. Mũi chủ yếu trung đội 1 phải dồn lực lượng lại thành 5 tổ (1 tổ dự bị).

24h00 : đại đội trưởng kiểm tra các bộ phận lần cuối và báo cáo với tiểu đoàn.

Ngày 31/5/1985

03h00 : đại đội 5 bắt đầu chiếm lĩnh trận địa.

04h45 : ta hoàn tất việc chiếm lĩnh trận địa, chậm 30 phút so với kế hoạch do trung đội 3 vướng bãi mìn phải đi vòng.
Trung đội 1 cách bãi MĐH của địch 10m, 2 tổ cách địch 40m.
Trung đội 2 bố trí hàng dọc cách địch 20m.
Trung đội 3 bố trí hàng dọc cách địch 70m.

04h47 : trung đoàn phát lệnh bằng VTĐ, hoả lực của ta bắn xuống các điểm tựa của địch.
Từ A21, ĐKZ của ta bắn vào ổ số 8 làm chuẩn cho trung đội 3. Cối 60mm từ đồi Cây Gạo bắn xuống 400, A6b, đồi Cây Khô, đồi Chuối. Cối 82mm tây 673 (trận địa Phong Lan) bắn vào đồi Cây Khô 1 quả đạn sáng làm hiệu lệnh
Địch bị bất ngờ không phán đoán được ý định của ta nên không phản ứng được gì.
Trên các hướng ta dùng B40, B41, M72 bắn vào các mục tiêu mở đường.

Cứ điểm 211.em ñaõ töøng ñoùng taïi haàm soá 2 ( toå Deá) treân aûnh

04h55 : Ta xung phong.

Hướng trung đội 1, MĐH không nổ. Ta dùng 5 ống bộc phá đánh để mở đường. Do sót mìn, khi xung phong có 1 đồng chí bị thương.
Hai toán địch cảnh giới bên ngoài không còn. Tổ 1 đi đầu đánh ổ số 4, địch ném lựu đạn ra, ta tung thủ pháo vào, sau 5 phút chiếm được tầng trên. 3 tên địch nằm chết ngoài công sự. Ta đánh tiếp xuống tầng dưới, diệt 3 tên và bắt sống 1 tên, thu 3 khẩu B41 và 1 máy VTĐ, 1 ống nhòm hồng ngoại. Tổ 3 đánh ổ số 5. Sau khi B41 bắn sập kè đá, trung đội trưởng chỉ huy đánh lướt qua dùng B41 yểm trợ cho tổ 2 đồng chí Tuyến và Quang theo hào đá dùng thủ pháo đánh tiếp ổ số 9. Đồng chí Quang chiếm được khẩu đại liên bắn truy theo bọn địch đang chạy về ổ số 6.
Địch ở đồi cây Khô bắn cối 60mm chặn ta. Lúc này ta chưa chiếm được ổ số 6 và 8, địch từ đó phản kích lên ổ số 9, tổ 2 người của ta phải rút về ổ số 5.
Sau khi chiếm lại ổ số 9, địch chia làm 2 mũi, mỗi mũi nửa tiểu đội tập trung phản kích 4 lần vào ổ số 4, 5 đều bị ta dùng lựu đạn đánh lui.

Hướng trung đội 2, sau khi MĐH nổ, ta xung phong không ai bị thương vong. Đồng chí Thêm dùng B41 bắn vào ổ số 2. Địch ở 400 dùng ĐKZ bắn tới, đồng chí này hy sinh. Tiểu đội trưởng Kha lên thay bắn tiếp cũng bị trúng đạn hy sinh.
Sau khi diệt toán cảnh giới, đánh chiếm được ổ số 3. Ta dùng B41, B40 bắn tiếp vào ổ số 1, 2 chi viện cho bộ binh đánh vào. Khi sục vào không còn địch.
Liên lạc với đại đội trưởng bị gián đoạn. Đồng chí Thu đại đội phó chính trị phán đoán trung đội 1 gặp khó khăn lệnh cho trung đội 2 để một bộ phận giữ khu đã chiếm, còn lại phát triển lên bình độ trên nhưng gặp vách đá và mìn không đi được. Lực lượng trung đội 2 chuyển sang hỗ trợ trung đội 1 và 3.

Hướng trung đội 3, MĐH không nổ. Ta dùng B41 bắn vào bãi mìn để mở đường. Khi xung phong mìn nổ làm đồng chí Khánh trung đội phó 3 chiến sĩ bị thương (sau đó 2 đồng chí hy sinh).
Lúc xung phong chia làm 2 mũi cùng đánh ổ số 8 và 10. Chiếm được ổ số 10 trước còn ổ số 8 vì vách đá cao không lên được. Bị mất liên lạc với đại đội trưởng, đồng chí Khiêm đại đội phó ra lệnh cho trung đội 3 để lại một tổ giữ ổ số 10 số còn lại chuyển sang hướng ổ số 4 (trung đội 1 đã chiếm) để đánh tiếp sang ổ số 8.

05h15 : đại đội 5 đã làm chủ ổ số 1, 2, 3, 4, 5, 10, địch còn cố thủ chống cự ở ổ số 6, 7, 8, 9.
Đại đội trưởng quay về ổ số 4 báo cáo tiểu đoàn và điều lực lượng vào đánh tiếp. Chiến sĩ ta xuống báo trong ổ số 6 địch đang gọi điện.
Sau khi B41 bắn, tổ 4 do đại đội phó Khiêm chỉ huy đánh ổ số 6, tổ 5 đánh ổ số 9 và 8. 5 phút sau ta chiếm được. Địch nằm chết quanh các hốc đá. Ổ số 6 còn 2 xác chết và nhiều vũng máu, 3 máy VTĐ vẫn có tiếng nói. Bọn còn sống chạy về A5.
Trong khi ta tấn công, địch ở ổ số 7 bỏ chạy ta không biết. Đến 5h35 ta vào chiếm nốt ổ số 7. Trận đánh chiếm A6b kết thúc. Ta nhanh chóng triển khai phòng ngự.

7h00 : pháo địch bắn trùm lên A6b, địch tổ chức tấn công Cô X, đồi Đài.

07h30 - 21h00 : địch từ A5 và A23 theo 2 hướng 5 lần tấn công A6b. Mỗi hướng từng đại đội địch thay phiên nhau xung phong liên tục.
Từ 1-6 đến 3-6-1985 địch tấn công tiếp 7 lần nữa.
Các đợt xung phong đều bị đại đội 5 (ngày 31-5 và 1-6) và đại đội 7 (ngày 2 và 3-6) đẩy lui. Hoả lực ta phát hiện sớm đánh nhiều lần vào quân địch khi chúng đang tập kết hoặc cơ động. Các toán vào gần được bị bộ binh ta đánh lui.

Đêm 1/6/1985 đại đội 5 bàn giao trận địa cho đại đội 7 tiểu đoàn 4.

KẾT QUẢ CHIẾN ĐẤU

- Trận tấn công A6b (31-5-1985):
Địch bỏ lại 25 xác. Đài quan sát của ta còn phát hiện ở hướng đồi Cây Khô địch khiêng ra 28 cáng.
Ta : hy sinh 4 và bị thương 15 đồng chí. Ta bắt 1 tù binh, thu 1 đại liên, 2 trung liên, 3 súng B41, 4 AK, 3000 lựu đạn, nhiều đạn AK, B41, 4 máy VTĐ, 1 điện thoại, 1 ống nhòm hồng ngoại.
- Trận chống địch phản kích (31-5 đến 1-6-1985) : đại đội 5 hy sinh 13 đồng chí và bị thương 24 đồng chí. Không thống kê được số thiệt hại của địch.
- Tiêu thụ đạn dược (trong cả 2 trận):
M72 : 32 quả; B40, B41 : 280 quả.
Bộc phá ống : 8 ống; MĐH10 : 8 quả.
Thủ pháo : 65 quả; lựu đạn : không thống kê được.
Cối 60mm : 5000 viên, cối 82mm : 5200 viên.
ĐKZ : 70 viên, đạn pháo : 5920 viên.
12,7mm : 4000 viên; K56 : 9000 viên; Đại liên : 9000 viên.

Lính Trung Quốc bị thương tại cứ điểm 211 (A6B)

NHẬT KÝ CỦA MỘT CÁN BINH TRUNG QUỐC GHI LẠI TRẬN CHIẾN ĐẪM MÁU TẠI CỨ ĐIỂM 211 (A6B).

Một cách tổng quát,  nhật ký này ghi lai diễn tiến trận đáng và cho biết phía Trung Quốc có 21 lính tử thương, 81 bị thương, một bị bắt; phía Việt Nam mất khoảng 300 quân. Quý bạn đọc nào rành tiếng Hoa, xin dịch lại dùm bản dịch này.

Hồi ký này được trích từ mạng : http://burningblood.yournet.cn/zhanli

悲壮的211高地

前言

CHUYỆN VUI LÀNG VĂN NGHỆ

Posted: 15 Mar 2012 10:49 PM PDT

Chuyện thành lập "Nhóm các nhà văn bảo vệ Đảng..."

Đầu những năm tám mươi thế kỷ trước, tại thành phố Hồ Chí Minh một nhóm các nhà văn thông tin cho biết có 8 vị, các nhà văn này có sáng kiến tổ chức thành lập " Nhóm các nhà văn bảo vệ Đảng". Nhóm này có các vị; M.Q.L., P.T.H., N.H.T., B.Đ., H.K...

Việc đầu tiên của nhóm này là làm đơn tường trình xin thành lập, sau đo gửi UBND thành phố một đề án với dự toán nghe đâu lên tới 20 triệu; đầu năm 80 thì 20 triệu là to...

Chủ tịch là ông T.T.S một người vốn yêu quý dân văn nghệ nên duyệt cấp ngay...Thấy ngon lành, nhóm này lại gửi đơn sang thành ủy, mặc dù thư ký của Bí thư VTT cùng là một nhà thơ có ý kiến: Đảng đã tan rã đâu mà cần các ông nhà văn này bảo vệ; nhưng nể vì và không biết  bên chỗ ông TTS đã cấp nên bên thành ủy cũng ký cho...Nghe nói số tiến này xin về sửa được cái ôtô, hồi ấy có ôtô đi là oách lắm...

Cái Nhóm các nhà văn bảo vệ Đảng này hoạt động như thế nào sau này không thấy ai nhắc đến; chỉ thấy anh em văn nghệ nhắc tới chuyện một lần, trong một cuộc bia bọt tại trụ sở hội. Lần đó nhà văn Nguyễn Khải đi vào nhà vệ sinh, khi đến nơi thấy nhà văn H.K đang đứng chắn ở cửa vẻ khúm núm, quan trọng...Nhà văn Nguyễn Khải không hiểu ý vả lại đang mót nên len vào liền lập tức bị nhà văn kia, mặc dù nhỏ con hơn lôi xềnh xệch ra với vẻ lo lắng:

-Đống chí T.H đang đi vệ sinh trong đó ...

Đoàn kịch thể nghiệm đóng vai Cụ Hồ buôn lậu thuốc là JET bị bắt...

Đoàn kịch thể nghiệm đóng vai Cụ Hồ do đạo diễn H. làm trưởng đoàn đi lưu diễn vở này trình bày tại nhiều tỉnh phía nam, đến tận biên giới Cămpuchia...Khi đến đây đoàn phát hiện món thuốc lá JET có thể mua được liền mua một ôtô đầy...Khi đoàn về đến thành phố Hồ Chí Minh, chẳng may bị quản lý thị trường phát hiện nên đã bị ách lại. May quá trong đoàn có người có số điện thoại của ông TTS, lúc đó là Bí thư thành ủy...Nhờ cú điện thoại này mà đoàn đem được trót lọt số thuốc lá JET trong xe...

Diệt đế quốc Mỹ, phục thù cho dân tộc

Một cô sinh viên người Mỹ xinh xẻo, yêu mến Việt Nam nhất là nghệ thuật dân tộc nên đã sang Việt Nam tìm một đạo diễn về một bộ môn nghệ thuật truyền thồng có tên tuổi đề thụ giáo...

Thầy trò thụ giáo với nhau thế nào mà một thời gian sau cô học sinh người Mỹ này về viết thư kiện ông thầy Việt Nam khắp nơi; cô cứ tưởng Việt Nam cũng như Mỹ: Ông Clinton léng phéng với gái suýt mất chức tổng thống; còn mới đây Giám đốc Ngân hàng thế giới bị tù và mất chất vì tội sàm sờ chị em...Còn khi cô này gửi đơn đi khắp nơi nhưng đều không ai xử vì luật lệ Việt Nam muốn xử được phải có bằng chứng trai trên, gái dưới; còn nếu không có mà kiện củ khoai...

Chuyện này vỡ lở, vị đạo diễn kia không những không bị mất uy tín mà còn được anh em trong giới trầm trồ, ca ngợi vì đã phục thù được cho dân tộc...

Những vần thơ thú vị:

À...à mẹ nhớ ra rồi

Liên Xô sống giữ đất trời đầu tiên

Bây giờ còn gọi Xô Liên

Cái liềm bên ấy giống liềm bên ta...

Bây giờ mẹ mới nghĩ ra

Tây lai là giặc, tay Nga là mình...

( N.X.S.)

Tỉnh họp bàn tỉnh ủy

Huyện họp bàn toàn ban

Xã họp xã luận bàn

Thôn họp thôn náo nức

Ứng Hòa mà ra sức

Thì Hà Tây Thắng to

Ứng Hòa mà được mùa

Thì Hà Tây mát mặt...

( H.K.)

Trẻ không nơi nương thân

Gà đẻ rơi trên mái

Người ta sống khom lưng

Cứ y như ở vại

Nhờ có Đảng chỉ đường

Dân thành Hạng Vũ hết

Lấy chuông chùa nấu cơm

Đơm đó bằng túi dết...

H.K.

Vịnh anh Kim Đồng

Giá anh còn sống bây giờ

Tuổi gần bốn chục cũng già như ai

Dám hy sinh chẳng tiếc đời

Xây nên danh vọng...xây đài thiếu nhi...

H.K.

Vịnh thành Huế

Ơ hay thành Huế vẫn đang còn

Trải mấy nắng mưa chẳng xói mòn

Bún bò Đông Ba chan nóng hổi

Phải nhiều tương ớt mới thơm ngon...

H.K.

Cụ Hồ với dân như chày với cối

Như cội với cành

Toàn dân đoàn kết đấu tranh

Ngày về thống nhất yên lành Bắc-Nam

Cụ Hồ như cái đò ngang

Đưa dân đến bến vinh quang đời đời

Cụ Hồ như cái kiếng soi

Soi phường oanh liệt, soi người ranh ma...

THU NHẬP THỰC TẾ CỦA NGHỀ MẠI DÂM

Posted: 15 Mar 2012 07:24 PM PDT

Bộ Lao động Thương binh Xã hội vừa công bố kết quả nghiên cứu về "Đặc điểm di biến động của người hoạt động mại dâm nhìn từ góc độ giới tại 3 thành phố Hà Nội, Hải Phòng và TP HCM". Khảo sát thực hiện trên 189 nam và 199 nữ hành nghề mại dâm.

Đại diện đơn vị thực hiện nghiên cứu, PGS TS Nguyễn Hữu Minh, Viện trưởng Viện Gia đình và Giới cho biết, tuổi bắt đầu hoạt động mại dâm đối với 3/4 số được phỏng vấn là từ 25 trở xuống, 18% bắt đầu ở độ tuổi 16-18 và khoảng 4% từ 15 tuổi trở xuống.

Theo TS Minh, quan niệm rằng người hoạt động mại dâm chủ yếu thất học không hoàn toàn chính xác. Nghiên cứu cho thấy, gần 50% người hoạt động mại dâm có học vấn THCS trở lên, số học vấn THPT, đại học khá nhiều. Đáng chú ý, tỷ lệ nam giới trình độ từ THPT, đặc biệt là đại học cao hơn rõ rệt so với nữ giới.

Gái mại dâm bị công an Hà Nội bắt quả tang. Ảnh: Hà Anh

"Người hoạt động mại dâm chủ yếu làm việc độc lập hoặc gắn với nhóm bạn bè và những người quen biết (hơn 60%), số còn lại làm việc dưới sự quản lý của chủ trong khách sạn, nhà nghỉ, cơ sở vui chơi giải trí hoặc các cơ sở dịch vụ khác", ông Minh nói và cho hay, đây có thể là kết quả của sự áp dụng công nghệ (Internet, điện thoại di động) trong hoạt động mại dâm ở các thành phố giúp người hành nghề mại dâm chủ động hơn...

Theo thống kê, hơn 70% người được phỏng vấn đã hoạt động mại dâm liên tục dưới 3 năm, 16% từ 5 năm trở lên. Trung bình một ngày người mại dâm làm việc 5,7 giờ, trong đó nam giới làm việc trung bình 5,4 giờ và nữ làm việc trung bình 6 giờ. Một tháng mỗi người hành nghề mại dâm làm việc khoảng 19 ngày, thu nhập trung bình 8,6 triệu đồng (nữ là 10,6 triệu và nam là 6,55 triệu).

"Thu nhập này cao hơn nhiều so với thu nhập trung bình ở Việt Nam và gấp 2,5 lần so với thu nhập trung bình của nhóm 20% người có thu nhập cao nhất. Đó là chưa kể khoảng một nửa người hoạt động mại dâm có thu nhập khác, 5% có thu nhập từ 20 triệu trở lên", Viện trưởng Viện Gia đình và Giới cho hay.

Nhóm nam hoạt động mại dâm với người khác giới thường là nhóm tự do, tìm khách hàng ở các quán bar, vũ trường. Khách hàng của họ là những phụ nữ trung niên, giàu có. Tiền công của nhóm này thường cao nhất với mức 800.000 đồng -2,5 triệu đồng mỗi lần phục vụ, chưa kể quà tặng, tiền bao, tiền boa… nếu trở thành "khách hàng thân thiết".

Nhóm nam hoạt động mại dâm đồng giới và lưỡng giới thường có mức "thù lao" thấp hơn (100.000 - 150.000 đồng mỗi lượt). Nhóm mại dâm lưỡng giới thường hoạt động độc lập, gặp khách hàng nào có nhu cầu là "bán", trong khi nhóm đồng giới thường có 2 cách hoạt động, độc lập tìm khách hàng ở nơi công cộng và có quản lý trực tiếp hoặc gián tiếp hoặc được nuôi ăn ở và phục vụ khách hàng tại nơi ở hay theo yêu cầu của khách.

Nguyên nhân chủ yếu khiến những người được hỏi bước vào con đường mại dâm là do thu nhập cao (53%). Nhiều người đã không thể cưỡng lại nổi mức thu nhập mà hoạt động mại dâm mang lại. Một nam mại dâm 39 tuổi kể, trước đây anh ta làm massage, thấy nhiều người không to cao lực lưỡng bằng mình bán dâm, kiếm được nhiều tiền. Vậy là anh bắt đầu theo họ với ước mơ làm giàu.

Tuy nhiên, một số nguyên nhân khác cũng được những người hành nghề mại dâm đưa ra như kiếm tiền phụ giúp gia đình, thất tình, bị lừa hoặc hậu quả của khủng hoảng, mâu thuẫn trong các mối quan hệ gia đình, bị lôi kéo, bạn bè rủ rê hoặc do nghiện ma túy. Gần 25% số người hoạt động mại dâm tự tìm tới công việc này.

Đối với nam giới, ngoài thu nhập cao, họ tham gia hoạt động mại dâm còn để đáp ứng nhu cầu tình dục hoặc cho rằng đây là hoạt động phù hợp với đặc điểm, khả năng của bản thân. Trong một xã hội mà quan hệ tình dục đồng giới vẫn còn bị định kiến và kỳ thị, việc tham gia hoạt động mại dâm có thể được coi như là một cách để sống cuộc sống tình dục đồng giới.

Một số ít trường hợp do muốn thể hiện cá nhân mà tự dấn thân vào hoạt động mại dâm. "Nhà em không nghèo, giàu là khác nhưng ông bà già quản tiền chặt. Chơi với bạn, bệnh sĩ nổi lên, không có tiền thì phải tự mình kiếm. Bạn em gợi ý là em đồng ý luôn", nữ mại dâm 23 tuổi tâm sự.


Hoạt động mại dâm là bất hợp pháp tại Việt Nam. Điều 4 của Pháp lệnh Phòng chống mại dâm nghiêm cấm các hành vi mua dâm, bán dâm, chứa mại dâm, tổ chức hoạt động mại dâm hoặc cuỡng bức bán dâm. Những người hoạt động mại dâm thường có nguy cơ bị lạm dụng do bản chất công việc của họ, tình trạng bất hợp pháp và sự bị kỳ thị.

Những nghiên cứu hiện có cho thấy khả năng dễ bị tổn thương tăng lên do tính di biến động, người di cư thường phải chịu sự phân biệt, bóc lột và hạn chế tiếp cận các dịch vụ y tế, pháp luật và xã hội.

Hoàng Thùy
( Vnexpress )

YÊU CẦU TRUNG QUỐC CHẤM DỨT XÂM PHẠM HOÀNG SA

Posted: 15 Mar 2012 04:42 PM PDT

"Việt Nam yêu cầu Trung Quốc tôn trọng chủ quyền của Việt Nam, chấm dứt các hoạt động xâm phạm chủ quyền của Việt Nam tại khu vực quần đảo Hoàng Sa, đóng góp thiết thực o việc duy trì hòa bình ổn định trên Biển Đông."

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam, Lương Thanh Nghị. Ảnh: Chinhphu.vn
Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam, Lương Thanh Nghị. Ảnh: Chinhphu.vn.
Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lương Thanh Nghị đã đưa ra tuyên bố trên o ngày 15-3, về phản ứng của Việt Nam trước các hoạt động của phía Trung Quốc tại khu vực quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.

Thời gian gần đây, Trung Quốc tiếp tục có các hoạt động tại khu vực quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, cụ thể là: Công ty Dầu khí Ngoài khơi quốc gia Trung Quốc (CNOOC) tiến hành mời thầu dầu khí 19 lô ở khu vực phía Bắc Biển Đông trong đó có lô 65/24, cách đảo Cây (Tree Island) thuộc quần đảo Hoàng Sa khoảng 01 hải lý; ngày 2-3-2012, biên đội tàu hộ vệ 11 của Trung Quốc tiến hành huấn luyện bắn đạn thật ở vùng biển thuộc quần đảo Hoàng Sa;

Ngày 7-3-2012, tại kỳ họp thứ 5 Chính hiệp khóa XI, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch Trung Quốc đã phát biểu về việc Tổng cục Du lịch Trung Quốc chính quyền tỉnh Hải Nam đang hợp tác để mở rộng hoạt động du lịch tại quần đảo Hoàng Sa; ngày 12-3, trên "Diễn đàn cường quốc" của mạng Nhân dân, Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Cục trưởng Cục văn vật quốc gia Trung Quốc cho biết trong giai đoạn Quy hoạch 5 năm lần thứ 12, Trung Quốc sẽ xây dựng trung tâm khảo cổ dưới đáy "Nam Hải" (Biển Đông) trạm công tác "Tây Sa" (Hoàng Sa); chính quyền tỉnh Hải Nam tổ chức cuộc đua thuyền buồm Cúp Ty Nam từ Tam Á đến quần đảo Hoàng Sa o ngày 28-3-2012.v.v.

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao nêu rõ: "Hai quần đảo Hoàng Sa Trường Sa là bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam. Những hoạt động nêu trên của Trung Quốc vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa; vi phạm luật pháp quốc tế; trái với tinh thần Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông ký năm 2002 giữa ASEAN Trung Quốc, đi ngược lại nhận thức chung của Lãnh đạo cấp cao hai nước không có lợi cho việc phát triển quan hệ hữu nghị hợp tác giữa Việt Nam Trung Quốc".

Theo Vietnam+

BỨC XÚC, NGƯỜI DÂN ĐẬP PHÁ TRỤ SỞ UBND, ĐỐT NHÀ CHỦ TỊCH XÃ

Posted: 15 Mar 2012 04:35 PM PDT

Nhà riêng chủ tịch xã bị đập phá nghiêm trọng
 (PL&XH)-Khoảng 21g ngày 12-3, hàng trăm người dân xã Tự Lập, huyện Mê Linh, TP Hà Nội bức xúc kéo đến trụ sở UBND xã Tự Lập đập phá đồ đạc và đốt nhà của ông Dương Văn Nhạn – Chủ tịch xã Tự Lập.

Qua tìm hiểu, nguyên nhân dẫn đến hành vi đập phá nêu trên là do trước đó, khoảng 13g ngày 12-3, nhiều thanh niên trong xã Tự Lập được chính quyền và CA xã gọi lên làm việc do liên quan đến việc đánh, chém nhau với thanh niên xã Tiến Thắng. Tuy nhiên, khi ra đến UBND xã, những thanh niên này bị đẩy lên xe và được đưa về CA huyện.

Thấy con cháu mình bị bắt lên CA huyện mà không một lời giải thích, đến tối lại không thấy cho về nên hàng trăm người dân kéo đến UBND xã để đòi người. Bức xúc, nhiều người dân đã lao vào UBND xã đập phá đồ đạc công sở và tiếp tục kéo đến nhà riêng ông Dương Văn Nhạn - Chủ tịch xã Tự Lập đập phá hết đồ đạc, bàn ghế... và đốt ngôi nhà đang xây.

Ông Trần Văn Vấn, một người dân bức xúc nói: "Chúng tôi không đồng tình với cách làm việc của chính quyền địa phương, đặc biệt là ông Dương Văn Nhạn - Chủ tịch xã. Thanh niên 2 xã đánh nhau nhưng họ chỉ bắt mỗi thanh niên xã Tự Lập còn thanh niên xã Tiến Thắng thì không bắt ai".

"Đêm qua, cháu Đen học lớp 11, bị một nhóm thanh niên bên xã Tiến Thắng cầm dao, kiếm rượt đuổi chém may mà chạy được. Nó hiền lành ngoan ngoãn chứ có đánh ai bao giờ", ông Vấn cho biết thêm.

Đến 10g sáng nay, hàng trăm người dân vẫn tập trung tại UBND xã Tự Lập.

Cơ quan chức năng xã Tự Lập và huyện Mê Linh hiện vẫn chưa có động thái gì liên quan đến vụ việc. Thiết nghĩ, cơ quan chức năng xã Tự Lập và huyện Mê Linh cần sớm có hướng xử lý vụ việc theo pháp luật, để đảm bảo an ninh trật tự của địa phương.

Báo Pháp luật & Xã hội sẽ thông tin diễn biến vụ việc đến độc giả trong các số báo tiếp theo.

Một số hình ảnh PV ghi lại hiện trường vụ đập phá nói trên:

Hội trường UBND xã bị người dân đập phá

Ghế và hệ thống cửa kính bị hất tung

Căn phòng của Trưởng CA xã

Máy móc, đồ đạc trong phòng

Bàn ghế trong nhà

Ngôi nhà đang xây cũng bị đốt

12g ngày 13-3, người dân vẫn tập trung rất đông tại UBND xã Tự Lập

 V.Bắc - H.Tấn
Ảnh: Việt Bắc

Thứ năm, ngày 15 tháng ba năm 2012

Nhà văn Phạm Viết Đào blog thế sự - văn chương .net

Nhà văn Phạm Viết Đào blog thế sự - văn chương .net


CỰU TỔNG THỐNG ARROYO PHILIPPIN BỊ TỐNG GIAM VÌ BỊ NGHI NHẬN HỐI LỘ CỦA TRUNG QUỐC

Posted: 15 Mar 2012 03:22 AM PDT

Cựu tổng thống Philippines bà Gloria Arroyo đến trụ sở tòa án Pasay, Manila, 23/02/2012
Cựu tổng thống Philippines bà Gloria Arroyo đến trụ sở tòa án Pasay, Manila, 23/02/2012

REUTERS

Trọng Nghĩa Từng là nhân vật bất khả xâm phạm tại Philippines trong cương vị tổng thống từ năm 2001 đến năm 2010, bà Gloria Arroyo cùng phu quân và hai lãnh đạo cao cấp trong chính quyền của bà đã bị tư pháp ra lệnh tống giam vào hôm qua, 13/03/2012. Họ bị tình nghi đã can dự vào một vụ nhận hối lộ hàng triệu đô la để cho một công ty Trung Quốc trúng thầu xây dựng một mạng lưới viễn thông cho Philippines vào năm 2007.

Trát bắt giam do tòa án Philippines đặc trách bài trừ tham nhũng ban hành, nhắm vào cựu tổng thống, phu quân của bà là ông Jose Miguel Arroyo, có biệt danh là Mike, cùng với các ông Benjamin Abalos Sr., nguyên chủ tịch Ủy ban bầu cử và Leandro Mendoza, nguyên bộ trưởng Giao thông.
Ông Jose Arroyo, người được xem là nhân vật quyền thế đứng trong hậu trường để giật dây trong gần một chục năm vợ mình làm tổng thống, bị cáo buộc là đã nhận hối lộ để giúp tập đoàn Trung Quốc ZTE đoạt được hợp đồng trị giá 330 triệu đô la của chính phủ Philippines. Trong khi đó, bà Arroyo đã ký duyệt hợp đồng này, cho dù sau đó đã phải hủy bỏ, vì bị công luận phản đối dữ dội.
Từ Manila, thông tín viên Gabriel Kahn giải thích :
" Cựu tổng thống Philippines Gloria Arroyo và chồng bị tình nghi đã nhận một món hối lộ quan trọng khi bà Arroyo còn tại chức vào năm 2007.
Theo tòa án đặc trách xét xử tội tham nhũng, thì bà Arroyo đã gây sức ép để Manila cho phép tập đoàn Trung Quốc ZTE được một hợp đồng trị giá hơn 330 triệu đô la, để thiếp lập một hệ thống liên lạc internet giữa chính quyền trung ưöng và các chính quyền điạ phương.
Hợp đồng này tuy nhiên đã bị hủy bỏ một năm sau đó dưới sức ép của Quốc hội và các tổ chức dân sự.
Cựu tổng thống Philippines đã bị quản thúc từ tháng 11 năm 2011 tại một bệnh viện quân y ở Manila trong khi chờ đợi một vụ xét xử khác về tội bầu cử gian lận.
Chồng bà Arroyo, biệt danh là Mike, đã trả tiền thế chân vào hôm qua để được tại ngoại hầu tra. Cựu tổng thống Philippines và chồng có thể bị kết án đến 10 năm tù nếu bị xét là có tội.

Đương kim tổng thống Philippines Benigno Aquino, được bầu lên vào năm 2010, đã cam kết chống nạn tham nhũng vốn bị coi là đã lộng hành trong 9 năm cầm quyền của bà Arroyo ".
Lẽ dĩ nhiên là các bị cáo đều phủ nhận đã nhận tiền hối lộ từ tay tập đoàn Trung Quốc. Ông Arroyo chẳng hạn đã bác bỏ các lời tố cáo, cho rằng không thể kết tội ông về một hợp đồng mà chính vợ ông đã hủy bỏ.
Khi vụ tai tiếng bị phanh phui, công ty ZTE đã lên tiếng phủ nhận, khẳng định rằng họ không hề trả bất kỳ khoản hối lộ nào.Thế nhưng, nhiều nhân chứng trong thời gian qua đã nêu bật nhiều yếu tố như xác định việc phu quân cựu tổng thống ̣được hứa một khoản "lại quả" lên đến 70 triệu đô la một khi ZTE trúng thầu… Ngoài ra, bà Arroyo còn ngăn cản các quan chức cao cấp ra làm chứng trong cuộc điều tra của Quốc hội, khiến người ta lại càng nghi ngờ là bà dính líu đến vụ này.
Một hướng biện hộ thứ hai của bà Arroyo và những người thân cận là tố cáo đương kim tổng thống Philippines Aquino là muốn trả thù chính trị đối với người tiền nhiệm, khi chủ trương tung ra cuộc điều tra tham nhũng đối với bà Arroyo.
Dẫu sao thì vụ cựu tổng thống Philippines và người thân bị tố cáo nhận hối lộ của Trung Quốc có khả năng tác hại đến quan hệ Manila - Bắc Kinh, vốn đã bắt đầu căng thẳng hơn với việc đương kim tổng thống Aquino không ngần ngại chỉ trích Trung Quốc vi phạm chủ quyền của Philippines tại Biển Đông.
( RFI )

ĐỀ NGHỊ CT HỘI NHÀ VĂN VN KHAI TRỪ ÔNG TRƯƠNG THANH LIÊM RA KHỎI HỘI

Posted: 14 Mar 2012 04:19 PM PDT

Ông Trương Thanh Liêm thôi chức Chủ tịch Hội Nhà văn Cần Thơ vì bị phát hiện "đạo báo"

Lời bàn của Hai Xe Ôm:



Ông Trương Thanh Liêm đã làm cái việc đáng xấu hổ, vậy xin chuyển théc méc tới Ban kiểm tra Hội Nhà văn Việt Nam: Chủ tịch Hội Nhà văn của một tỉnh chắc chắn phải là Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam; Xin hỏi ai đã giới thiệu ông này vào Hội Nhà văn VN; ai đã bỏ phiếu cho ông Trương Thanh Liêm vào Hội Nhà văn VN; nhà văn loại gì mà đến một bài báo cũng phải ăn cắp ?
Hai Xe Ôm đề nghị ông Khuất Quang Thụy Trưởng Ban kiểm tra Hội Nhà văn VN vào cuộc, làm rõ việc kết nạp ông Trương Thanh Liêm vào Hội Nhà văn VN có tiêu cực, hối lộ, chạy cửa sau không ? 

                           Đại tá Khuất Quang Thụy, Trưởng Ban Kiểm tra Hội Nhà văn VN...

TT - Liên quan đến dư luận lùm xùm xung quanh vụ chủ tịch Hội Nhà văn TP Cần Thơ bị phát hiện "đạo báo", chiều 14-3 ông Phan Huy - chủ tịch Liên hiệp Các hội văn học nghệ thuật TP Cần Thơ - cho biết liên hiệp và Hội Nhà văn TP đã thống nhất cho thôi chức chủ tịch hội đối với ông Trương Thanh Liêm, vì ông Liêm đã sử dụng bài báo của một tác giả khác ký tên bút danh của mình gửi đăng trên tập san Áo Trắng số báo xuân 2012.
"Ngoài cho thôi chức chủ tịch Hội Nhà văn TP Cần Thơ, ông Liêm cũng tự nhận khiển trách về mặt Ðảng, chi bộ cơ quan Liên hiệp Các hội văn học nghệ thuật TP Cần Thơ cũng đồng ý với hình thức kỷ luật này và đề nghị Ðảng ủy cấp trên xử lý" - ông Huy nói.
Cũng theo ông Huy, ông Liêm đã lấy bài báo "Cô gái Cần Thơ múa lân trên cột và mai hoa thung" đăng trên báo Cần Thơ ngày 1-10-2011 của tác giả Ðặng Duy Khôi để gửi đăng trên tập san Áo Trắng số xuân 2012 (một ấn phẩm của báo Tuổi Trẻ) với bút danh Phương Anh và với tựa "Cô gái múa lân trên cột cao 7m".
Khi chuyện vỡ lở, ông Liêm quanh co không nhận trách nhiệm cho đến khi sự việc được sáng tỏ. Theo đó, ông Liêm phủ nhận việc mình đã gửi cho Áo Trắng bài viết trên và cho rằng có người sử dụng email của mình để gửi bài, chơi xấu ông trước mùa bầu bán nhân sự đại hội Liên hiệp Các hội văn học nghệ thuật TP Cần Thơ.
Tuy nhiên, sau khi Liên hiệp Các hội văn học nghệ thuật TP cử người xác minh các bên liên quan và trước khi ban chấp hành Hội nhà văn họp, ông Liêm làm giải trình thừa nhận mình có "đạo" bài viết trên để kiếm nhuận bút do hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn.
Theo ông Phan Huy, ông Liêm mới về nhận chức chánh văn phòng Liên hiệp Các hội văn học nghệ thuật TP từ tháng 9-2011 và được bầu làm chủ tịch Hội Nhà văn TP hơn hai tháng nay, trước đó ông Liêm là phó Ban Tuyên giáo huyện ủy Phong Ðiền, TP Cần Thơ.
"Tôi và anh em trong hội rất buồn vì sự việc nhỏ nhưng ảnh hưởng rất lớn đến uy tín của Hội Nhà văn TP" - ông Huy nói.
Chịu trách nhiệm thực hiện tập san Áo Trắng, nhà văn Nguyễn Ðông Thức trao đổi thêm: "Sự việc đúng như báo chí đã phản ánh. Tôi không có bình luận gì thêm. Chỉ đưa ra một nhận xét cảnh báo: có lẽ vì nghĩ tập san Áo Trắng ít người để ý nên nhiều "nhà đạo văn" thường gửi "sản phẩm" của mình về. Ðến nỗi chúng tôi phải mở hẳn mục "Tẩy trắng" để phê phán cụ thể từng vụ việc, nhưng hầu hết vụ việc đều từ các bạn học sinh có lẽ chỉ muốn "nổ" với bạn bè về "tài văn" của mình". Nhưng có thể nói, dù cả người đạo lẫn tác giả gốc đều vô danh, dù bài bị chôm chỉ ở một tờ báo tỉnh nhỏ hoặc trên một website nhỏ xíu nào đó, tất cả đều bị phát hiện bởi chính bạn đọc. Trong thời đại @ ngày nay, khó thể an toàn cho bạn nếu bạn có ý định đạo văn của người khác...".

H.T.DŨNG - TRUNG CƯỜNG - H.OANH
( Theo Tuổi trẻ ) 

Cáo lỗi:

Trong bài do sơ suất nên đã đưa nhầm ảnh ông Trương Thanh Liêm Ninh Thuận lên trang; Vậy xin thành thật cáo lỗi với ông Trương Thanh Liêm ( Ninh Thuận ) cùng quý vị... 
Blogger Phạm Viết Đào.

SƯ 313 ĐÃ TIÊU DIỆT 1 SƯ CỦA ĐẠI QUÂN KHU BẮC KINH DƯỚI QUYỀN CHỈ HUY CỦA TÚC NHUNG SINH ( CON DANH TƯỚNG TÚC DỤ )...

Posted: 14 Mar 2012 07:18 AM PDT

Nghe câu chuyện về trận đánh do Đại tá Bùi Như Lạc kế trên Đồi Cô Ích, thấy nhiều tình tiết trùng hợp với một trận đánh do báo Phượng Hoàng Trung Quốc đưa về một trận thảm bại của quân Trung Quốc do tướng Túc Nhung Sinh con của Danh tướng Túc Dụ cầm quân. Có điều trên báo Phượng Hoàng tác giả Trung Quốc La Gia Bình viết về trận này xảy ra vào ngày 31/5/1985, còn Đại tá Bùi Như Lạc nhớ là năm 1986 ? Có thể Đại tá Bùi Như Lạc nhớ sai.

Phamvietdao.net đã tìm gặp Thiếu tá Hoàng Cường, trợ lý tác chiến Bộ tư lệnh quân sự tỉnh Hà Tuyên lúc đó, ông có xác nhận đúng Sư 313 đã có một trận thắng oanh liệt, lừa đánh được quân Trung Quốc năm 1985. 

Xem bản đồ của phía Trung Quốc nêu vị trí Đồi 211 đúng là Đồi cô Ích mà phía Việt Nam gọi...

Xin đưa lại 2 bài viết này đã đưa trên Phamvietdao.net để minh chứng thêm ý kiến của Đại tá Bùi Như Lạc

-LÃO SƠN THẢM BẠI, TÚC NHUNG SINH THĂNG QUAN

-MẶT TRẬN VỊ XUYÊN HÀ GIANG 1981-1988: TRẬN STALINGRAD CỦA VIỆT NAM ( Kỳ 27 ) đề cập tới sự kiện này...

Đồi 211 trong bài viết này trên bản đồ phía trên có ký hiệu C...


LÃO SƠN THẢM BẠI, TÚC NHUNG SINH THĂNG QUAN

La Gia Bình (TQ) 


Sau thảm bại ngày 31 tháng 5, quân 67 còn xảy ra một chuyện trước sau chưa từng có trong chiến tranh với Việt Nam. Một người chiến sĩ, vốn người  Táo Trang [18], từ trận đánh đồi 211 may mắn được sống quay về, vào giờ ăn cơm sáng, bước vào nhà ăn sở chỉ huy quân 67, nhằm Túc Nhung Sinh mà bắn, Túc Nhung Sinh nhanh nhẹn trốn xuống gầm bàn ăn, nên không bị thương. Nhưng người cảnh vệ của họ Túc thì bị giết chết, Quân trưởng Quân 67 Trương Chí Kiên bị thương xuyên bả vai, còn mười người gồm binh lính sĩ quan đang đứng tại hiện trường cũng trúng thương...

Đồi 211 ở chiến khu cửa khẩu Na Lạp tại tiền tuyến Lão Sơn là trận địa Quân 1 đoạt đựợc từ 11/2/1985, đến 18/5/1985 thì chuyển sang cho Quân 67 giữ và tiếp tục cố thủ trận địa này. 13 ngày sau, tức 31/5/1985, vào 5 giờ 10 phút buổi sớm, Quân khu 2 của Việt Nam  đột nhiên phát động (đợt công kích) "M-1" tấn công vào Quân 67 vốn còn chưa ổn định, pháo kích mãnh liệt toàn bộ chiến trường Lão Sơn. Hỏa lực đã được chuẩn bị để tập kích liên tục suốt 45 phút.

5 giờ 5 phút, lực lượng pháo binh của VN lại mở rộng hỏa kích, Doanh 4 Đoàn [2] 982 của quân Việt Nam chia hai đường, công kích ba đồi 211, 156, 166.  Đồng thời Doanh 5 Đoàn 982 thực thi dương công [3] vào các đồi 140, 142. Binh sĩ Việt Nam dưới sự yểm trợ rất chuẩn xác của hỏa lực pháo binh, cấp tốc chiếm lĩnh các cứ điểm[4]1, 2 trên  đồi 211, các binh sĩ (của TQ) có mặt trên [các cứ diểm này] hầu hết tử vong. Lí Lâm Hải, đóng tại cứ điểm 1 bị quân Việt bắt. Đây là binh sĩ duy nhất của quân đội Trung Quốc bị bắt trong thời kí "Lưỡng Sơn Luân chiến"[5]. Ban [6] trưởng Bảo Hổ Dân bỏ trận địa, chạy ven núi nấp vào các bụi cỏ mất 7 ngày rồi sau đó quay về trận địa Hữu Lân. Quân Việt có pháo kích yểm hộ nhiều lần công kích vào các đồi 140, 155, 166, đến 9 giờ 30 phút tối mới dừng tấn công. Đồi 211 không lớn, tiếp giáp với đồi 227 có quân Việt đồn trú. Trước mặt đồi 211 có bố trí ba cứ điểm, có thể nói, quân Việt đã chiếm lĩnh thành công đồi 211.

Ngày hôm đó, Quân 67  báo cho Quân khu Côn Minh và Bộ Tổng tham mưu (Tổng tham hối) là đồi 211 vẫn còn trong tầm kiểm soát, nhưng người đương nhiệm Bộ trưởng Bộ tác chiến của Tổng Tham hối là Trung tướng Ngôi Phúc Lâm đòi hỏi trực tiếp đến Lão Sơn kiểm tra tình hình, yêu cầu Quân 67 gửi chiến sĩ từ đồi 211 đến để hỏi chuyện.

Quân 67 thấy không còn cách nào khác, đành phải bằng mọi giá quyết đoạt lại các cứ điểm 1, 2 trên đồi 211.

Thiếu tướng Sư trưởng Trịnh Quảng Thần của Sư 199 (sau làm đến Phó tư lệnh Quân khu tỉnh Sơn Đông mới về hưu) phản đối mạo hiểm xuất kích, cho rằng nếu cứ cố tiếp thủ trận địa thì phía ta chưa thành thục tình huống, địa điểm và tình hình bên đối phương, nên giữ quân chờ đến lúc quân ta đã thành thục. Trịnh Quảng Thần nhận định, trận chiến đầu này rất quan trọng, không đánh thì thôi đánh thì nhất định phải thắng, phải có được cơ sở là đã nắm chắc mọi thứ thì mới nên tiến hành chiến đấu. Ý kiến của ông không được chấp nhận mà còn bị Tham mưu trưởng Túc Nhung Sinh cho là "sợ đánh", "tinh thần dao động". Túc Nhung Sinh đến gặp Quân trưởng báo cáo việc của Sư trưởng. Quân trưởng giận dữ cắt luôn quyền chỉ huy của Sư trưởng (tức ông Trịnh), cho phép Túc Nhung Sinh vượt thẩm quyền của Sư 199, trực tiếp nắm quân quyền tổ chức Đoàn 595 thuộc Sư 199 tiến hành phản kích.

(Lại nói thêm rằng, Túc Nhung Sinh là người mới được đề bạt lên Sư trưởng của Sư 200 được một năm, trước chiến tranh, nhờ công dẹp được mâu thuẫn ở cấp cao nên  được đề bạt lên làm Tham mưu trưởng Quân 67. Chỉ vì lần này ông ta chuộng hư danh ưa dối trá [7] mà khiến cho sĩ quan binh lính của Sư 199 đi đến cảnh ngộ bi đát. Sau khi Quân 67 thảm bại, Túc Nhung Sinh bị hãm ở cương vị Tham mưu trưởng suốt 5 năm. Đến năm 1990 , bị điều sang làm Phó bộ trưởng Bộ quân vụ.
Sau khi  "Dương gia tướng" [8] thôi chức, Sở Thanh [9]  nhờ cấp dưới cũ của Đại tướng Túc Dụ là Phó chủ tịch Quân ủy họ Trương, đề bạt Túc Nhung Sinh lên làm Quân trưởng đơn vị cũ của cha ông ta là Quân 24. Tháng 11 năm 1997 được đề bạt lên làm Phó tư lệnh Quân khu Bắc Kinh (chủ quản hậu cần, cơ quan, nội vụ, hoạt động đối ngoại). Năm 1999, sau 11 năm là Thiếu tướng, được phong lên hàm Trung tướng. Nghe nói, "xét đồng chí Túc Nhung Sinh, trong thực tế quá trình công tác xây dựng bộ đội và huấn luyện tác chiến, tích cực khai triển nghiên cứu khoa học,  được tặng giải thưởng (Vì) Sự tiến bộ của nền khoa học quốc gia bậc hai, giải thưởng (Vì) Sự tiến bộ của khoa học quân sự bậc nhất cùng các hạng mục khen thưởng khác. Cùng hơn mười hạng mục về kĩ thuật chuyên lợi quốc gia. Đồng chí Túc Nhung Sinh cũng kiêm chức Giáo sư Đại học Quốc phòng, thành viên Hội Úy viên chuyên gia kiến thiết tự động hóa chỉ huy toàn quân").
1/6/1985, từ Quân 67, Túc Nhung Sinh tổ chức thành ra Doanh 1 Đoàn 595 nhằm đồi 255 tập kết rồi tìm cơ tiến hành phản kích đồi 211. Phó doanh trưởng Vương Triêu Lịch (Lao [10]) phụ trách chỉ huy toàn tuyến. Sáng sớm, gặp được trời mưa cực to, đội đột kích thứ nhất được chỉ đạo hướng về đồi 211 xuất kích. Cùng lúc, Bài trưởng Bài 2 Liên 1 Vương Trung Viễn[11] dẫn đội đột kích thứ nhì từ đồi 908 hướng về đồi 211 xuất kích. Để khỏi chịu thương vong quá lớn, bên ta dùng "chiến thuật thêm dầu [12]", đi trước tuần tự là Đảng viên Cộng sản, Ban trưởng,  rồi đến Đoàn viên thanh niên, tổ chức thành các tổ chiến đấu nhỏ, lần lượt xuất kích. Hai đội đột kích thông qua một khoảng đất trũng, đánh thẳng vào các cứ điểm 1, 2 của đồi 211. Vào lúc đó, bọn quân Việt trên đồi phát hiện đội đột kích của bộ đội ta, ngay lập tức khai hỏa. Quân Việt ở trên cao hướng xuống, nhả đạn về phía quân ta. Đạn bay dày như mưa thoáng chốc đã tới, đồng thời chúng gọi pháo binh đến tiến hành dùng hỏa lực phong tỏa đoạn đường xung kích của quân ta, trong khi đó pháo binh ta cũng nhằm đồi 211 pháo kích gây áp lực.

Trước mặt đồi 211, 255, pháo binh hai bên dồn thành một khối, đạn xả như mưa. Trên con đường xung kích bùn lầy, hai Phó ban trưởng bị bắn trúng chết tại trận. Dưới chân đồi 211 có khối đá cao 5m, ở đó chết hơn mười người của các đội đột kích, máu tươi hòa với mưa tạo thành một vũng lầy, còn những thây chết đang cứng lại thì mưa tẩy rửa hết (máu).  Khối đá này cách cứ điểm 3 của đồi 211 do quân Trung Quốc cố thủ khoảng 15m. Những người còn sống chỉnh lại đội nghũ rồi từ cứ điểm 3 xuất kích hướng về cứ điểm 1, 2. Tại vùng tiếp nối trận địa 227 có quân Việt đóng với đồi 211, từ hai phía (quân đột kích) giáp công thành một khối. Sau một hồi chiến đấu thảm khốc kịch liệt, cứ điểm 1,2 đã được quân ta chiếm lại, quân Việt đóng trước mặt trận địa 227 lập tức tăng viện. Liền đó, đội đột kích vừa chiếm được cứ điểm 1 và 2 của đồi 211 liền bị bao vậy. Do hai bên lực lượng quá chênh lệch, đội đột kích bị ép vào thế hạ phong.

May sao còn 8 người quay về cứ điểm 3, trong số đó có 5 người đã bị thương. Hỏa lực của quân Việt vẫn rượt theo rất rát, đường thông từ đồi 255 đến đồi 211 bị phong tỏa hoàn toàn, mà quân tăng viện vẫn chưa thấy kéo đến. 8 người của ta ở phía trên không kéo xuống dưới được, sau mấy ngày cầm cự ngoan cường tại cứ điểm 3 đồi 211, năm người bị thương lần lượt tử vong. Trong đợt đụng độ sau đó, ở khối đá lớn phía trước cứ điểm 1, quân Việt đã treo ngược xác một người lính Trung Quốc để thị uy. Sau đó quân ta tra xét biết được rằng người bị phơi thây ấy là Phó liên [13] trưởng Giả Kha của Liên 1 Đoàn 595. Hành động này của quân Việt đã kích động lửa giận của cấp chỉ huy. Vậy là, hết một lượt đầu đội đột kích đã ngã xuống, thì lại đến lượt đội đột kích khác tiếp tục, trước sau (cấp trên) liên tục chỉ đạo cho Quân 67 yêu cầu bộ đội không được tiếc bất kỳ giá nào, nhất định công kích đồi 211.
Tại điện đài 861, không ngừng nghe tiếng bộ đội Trung Quốc xung phong để chiếm lĩnh lại các cứ điểm 1 và 2, nhưng sau mỗi đợt xung kích đó, đại bộ phận bộ đội không hy sinh thì cũng trọng thương. Trong khoảng thời gian đó, hỏa lực pháo kích của hai bên che trùm hai đồi 255, 211, cùng với âm thanh gầm xé của đạn pháo, đội xung kích hết lượt này đến lượt khác tràn lên. Hỏa lực thực quá ư mãnh liệt, mà quân Việt ở trên đồi 211 có lợi thế là từ cao đánh xuống thấp, thành thử phần nhiều quân đột kích phát động xung phong mà không sao tiếp cận được đồi 211, đành ngã xuống dưới trời mưa đạn. Tính ra, Liên 3 tổ chức 3 đội xuất kích xung phong lên phía trên, đến hôm sau, chỉ còn sống 2 người. Để bảo đảm trước khi Bộ trưởng Bộ tác chiến Ngôi Phúc Lâm đến nơi (sẽ có chứng cứ là) đã chiếm được đồi 211, đến thời khắc quyết định, ba vị Phó doanh trưởng được phái đi tăng viện của đoàn 595, dưới mệnh lệnh "không được tiếc bất cứ giá nào, phải thu lại đồi 211, có ba vị Phó tống lí [14] ở Trung Nam Hải đang đợi tin thắng trận của ta đó" của Tham mưu trưởng Quân 67,  đã mang cả những người lính liên lạc [15] cuối cùng lên tận đỉnh núi.

Từ mùng 2 thàng 6 đến ngày 11 tháng 6, sau 10 ngày hỏa lực pháo binh của 2 bên tập kích mãnh liệt, đội đột kích của bộ đội ta căn bản không có cách nào tiếp cận đồi 211. Nhưng vị chỉ huy vẫn phái bộ đội tiến lên. Trong tình cảnh không thể đoạt lại đồi 211, Quân 67 vẫn không tiếc bất cứ giá nào ném một lượng lớn binh sĩ đạn dược vào nhằm đoạt lại đồi cho bằng được. Trong trận này, do bị hỏa lực pháo binh cực kì mạnh mẽ của quân Việt phong tỏa, ta không có cách nào chở thi thể của những người tử vong tại trận về được, cảnh tượng thây chết đầy đồng cực kì thê thảm. Quân 67 lại ra mệnh lệnh tối hậu, bằng mọi giá phải lấy được xác binh sĩ trận vong về, do đó Sư 199 lại tiến hành vài đợt công kích với tính chất yểm hộ. Đến ngày chiến đấu thứ 11, Đoàn 595 Sư 199 Quân 67 tổn thất nghiêm trọng: 2 doanh bị quân Việt phá vỡ, các thiết chế đoàn-liên hoàn toàn bị phá, 3 Liên của Đoàn 597 vốn là đội dự bị đến tăng viện cho đoàn 595 đã bị tổn thất nghiêm trọng trong những đợt tiến công không có chút hy vọng thắng lợi. 120 tướng sĩ của đội đột kích vĩnh viễn nằm lại trên đồi 211, còn những người bị thương nặng và nhẹ thì không xiết kể. Trong khoảng trăm hang hốc phụ cận đồi 211, các chiến sĩ bị thương của các đội đột kích bên ta tạm trú lại, nhưng lúc dó bên ta không biết họ đang kiên trì chờ các Bác sĩ của ta đến cứu chữa. Sau đợt chiến đấu này, các chiến sĩ có thể tự mình quay về địa điểm xuất phát mười phần chẳng được lấy một….

Cả Đoàn 595 đã mất hết năng lực chiến đấu, không thể tiếp tục chấp hành nhiệm vụ tác chiến được nữa, bị điều khỏi tiền tuyến để chỉnh đốn. Để thay thế cho Đoàn 595, Quân khu Tế Nam ở Sơn Đông đã cấp tốc tổ chức lập Đoàn 598 (3 Doanh là từ Đoàn 598, Đoàn 599 và đoàn 600, còn liên pháo binh trực thuộc thì từ Sư 76).

Xem xét địa hình mà nói, đồi 211 chả có giá trị quân sự gì, nhưng vì đồi 211 là do Quân 67 tiếp nhận từ tay Quân 1 giao lại, nên thủ trưởng Quân 67 cho rằng không thể để mất được, thế là hết lần này đến lần khác đem số lượng lớn binh sĩ đẩy vào trận địa pháo kích của quân Việt, đó là nguyên nhân chính dẫn đến thua trận mất người ngày 11 tháng 6 vậy. Khi tin tức Đoàn 595 Sư 199 Quân 67 đánh đồi 211 thất lợi truyền ra ngoài, quân đội cả nước náo loạn cả lên! Nhưng đối với những chiến sĩ của Đoàn 595 tử vong trong chiến đấu ngày đó, cái nỗi tiếc hận còn để lại không chỉ đến thế mà thôi, bởi vì đối với những tướng sĩ đã tận trung báo quốc đó, đại bộ phận sau đó lại không được hưởng những vinh dự thích đáng. Trong danh sách mà Quân khu Tế Nam phong tặng danh hiệu anh hùng [16] bậc 1, bậc 2 và liệt sĩ công lao bậc 1 cho khoảng 100 bộ đội "luân chiến" [17], ngoại trừ Giả Kha ra, cũng ít thấy tên những sĩ quan binh lính của Đoàn 595 hy sinh trong ngày 11 tháng 6.

Toàn Sư 199, từ trên xuống dưới, đối với các thủ trưởng của Quân 67 cực kì phẫn nộ. Có một lần cán bộ chiến sĩ đã liên danh làm cáo trạng, báo lên Tổng bộ Quân ủy, chỉ trích Tham mưu trưởng quân 67 không nghe ý kiến của bộ đội, chỉ biết bàn việc binh trên giấy, gây nên tổn thất nghiêm trọng cho bộ đội trong chiến đấu. Tổng bộ trước sau lần lượt phái Bộ trưởng Bộ huấn luyện quân là Thạch Hiệp và một số người khác đến điều tra. Sau khi điều tra, khẳng định rằng tuyệt đối không phải lãnh đạo sư 199 sợ chiến đấu, mà do lúc đó thủ trưởng Quân 67 phán đoán không chính xác tình hình địch ta, chỉ huy vượt cấp, sau khi thất bại lại đổ trách nhiệm xuống cấp Sư, về lí không đúng, đối với Quân 67 cần phê bình nghiêm khắc. Túc Nhung Sinh lúc này cảm thấy mình rất là mất mặt, liền dẫn quan chức (cấp Quân) của quân 67 lui về quân Bộ. Sư trưởng Sư 199 Trịnh Quảng Thần được khôi phục quyền chỉ huy, những trận chiến sau này, đều do bộ phận (lãnh đạo cấp Sư)  của Sư 199 tự tổ chức chỉ huy.

Trịnh Quảng Thần tổ chức cho Sư 199 làm quen với chiến trường, làm quen với các đặc điểm về cách thức chiến đấu của quân Việt đối địch, chỉnh lí bộ đội, tủy thời triển khai phương pháp huấn luyện có mục tiêu cụ thể. Cứ thế ba tháng liền, đến mùng 8 tháng 9, Phó liên trưởng Liên trinh sát là Nguyên Minh, Phó chỉ huy là Hạ Quang Minh đã lấy17 người tổ chức thành đội đột kích, phát động tập kích ngay giữa ban ngày, vào mười giờ sáng men cứ điểm 3 bên trái sang trèo qua một đoạn vách núi lên cứ điểm 2 do quân Việt chiếm lĩnh, giết được 7 người lính Việt đóng trên đồi 211, đổi lại bên ta chỉ có hai người bị thương nhẹ. Sau đó quân Việt pháo kích trả thù, kết quả Phó liên trưởng Nguyên Minh mắt trái bị thương thành mù, hai vị Ban trưởng của đội đột kích bị thương, hy sinh trên đường đưa về trạm y tế cấp cứu.

Sau thảm bại ngày 31 tháng 5, Quân 67 còn xảy ra một chuyện trước sau chưa từng có trong chiến tranh với Việt Nam. Một người chiến sĩ, vốn người  Táo Trang [18], từ trận đánh đồi 211 may mắn được sống quay về, vào giờ ăn cơm sáng, bước vào nhà ăn sở chỉ huy Quân 67, nhằm Túc Nhung Sinh mà bắn, Túc Nhung Sinh nhanh nhẹn trốn xuống gầm bàn ăn, nên không bị thương. Nhưng người cảnh vệ của họ Túc thì bị giết chết, Quân trưởng Quân 67 Trương Chí Kiên bị thương xuyên bả vai, còn mười người gồm binh lính sĩ quan đang đứng tại hiện trường cũng trúng thương.

Cả hiện trường náo loạn, tất cả đều cho rằng đây là đội đặc công mà bên Việt Nam phái sang thâm nhập đánh úp, mấy ngày sau mà chưa làm rõ được đầu đuôi là chuyện gì. Mà người chiến sĩ ấy cũng an toàn trở về từ hiện trường. Mấy ngày sau, mới phát hiện anh ấy đã tự sát tại hầm nước phía sau sở chỉ huy Quân 67. Trong lòng còn ôm ngọn súng, do đã qua một thời gian dài nên xác đã bốc mùi. Thế là (sự việc xảy ra ở) Quân 67 lại một lần nữa bị thông báo trong toàn quân.

Sau khi sự việc phát sinh, Quân ủy trung ương, Bộ Công an, Bộ An ninh Quốc gia và Quân khu Tế Nam  liên tiếp phái người đến Quân 67 điều tra nguyên nhân sự việc. Trương Chí Kiên đang nằm viện, phải chịu việc điều tra, khóc mà nói rằng: "Tôi chưa bao giờ nghĩ đến nông nỗi quân của mình lại cầm súng bắn vào Quân trưởng của họ như vậy!"

N.T.A.T.

Nguồn:名将粟裕之子粟戎生67军对越作战中5.31败之谜

发表时间:2011-02-14 03:14 作者: 罗家坪看中国15/2/2011

[1] Quân là đơn vị ở trên "sư"
[2] "Doanh" tức Tiểu đoàn,  "Đoàn" tức Trung đoàn
[3] Nghĩa là triển khai mũi tấn công phụ để quân địch không biết chủ lực và phương hướng tiến công chính ở đâu mà tập trung quân lực
[4] Nguyên văn: Tiêu vị
[5] TQ goi giai đoạn chiến đấu với VN từ 84 đến 89 như vậy
[6] Ban tương đương với tiểu đội
[7] Nghuên văn "độ kim" tức "mạ vàng", ý chỉ viẹc ông này chạy theo thành tích bề ngoài
[8] Là một dòng họ sinh ra nhiều danh tướng đời Tống, ở đây chỉ Dương Thượng Côn. Năm 1992-1993 ông thôi giữ các chức vụ Ủy viên Cục chính trị Trung ương, Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, phó Chủ tịch thứ nhất quân ủy trung ương
[9] Phu nhân Đại tướng Túc Dụ
[10] Chữ có hai âm đọc
[11] Chỗ này ghi "Nhất liên nhị bài trưởng Vương Trung Viễn". Bài là đơn vị ngay dưới Liên, Bài tương đương Trung đội.
[12] Thiêm du chiến thuật
[13] Liên, tức là tương đương với Đại đội
[14] Tổng lí tương đương Thủ tướng
[15] Nguyên văn: thông tấn viên
[16] Nguyên văn: "Anh mô"
[17] Tức viết tắt của "Lưỡng sơn luân chiến", xem ở trên
[18] Thành phố Táo Trang, thuộc tỉnh Sơn Đông
Được đăng bởi bvnpost Lão sơn thảm bại, Túc Nhung Sinh thăng quan

Nguyễn Thị Anh Thưdịch

---------------------------------------------------------------------

MẶT TRẬN VỊ XUYÊN HÀ GIANG 1981-1988: TRẬN STALINGRAD CỦA VIỆT NAM ( Kỳ 27 ):


  

Thiếu tá Hoàng Cường,người ngồi bên phải...

Hỏi chuyện Thiếu tá Hoàng Cường-Nguyên Trợ lý tác chiến Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Hà Tuyên về trận thảm bại 31/5/1985 của quân Trung Quốc, dưới quyền chỉ huy của Tướng Túc Nhung Sinh…

Sáng thứ 7 ngày 15/4, đúng 8 giờ, tôi gọi điện cho ông Nguyễn Tấn Trọng xem đêm qua ông đã liên hệ giúp tôi để sáng nay tôi gặp và hỏi chuyện ông Hoàng Cường không? Đầu giây, ông Trọng cho biết, ông đang chuẩn bị đến nhà ông Hoàng Cường, nếu ông Hoàng Cường nhận lời, ông sẽ gọi điện lại cho tôi…

Đợi đến 9 giờ, vẫn không thấy động tĩnh gì, tôi lại gọi điện cho ông Nguyễn Tấn Trọng, ông Trọng cho biết: "Tôi đang ngồi ở nhà ông Hoàng Cường đây. Ông Hoàng Cường đang mệt, ông cũng không còn nhớ nhiều về cuộc chiến đã xảy cách đây hơn 20 năm…"Tôi hơi thất vọng. Nhưng ông Trọng lại cho biết, nếu anh đến chơi ông Hoàng Cường sẽ tiếp. Tôi hỏi địa chỉ. Ông Trọng dặn bắt tăxi đến Nhà văn hóa phường tại Cầu Phát, ông Trọng sẽ ra đón tôi…

Tôi liền bắt xe đi mất 10 phút. Đến nơi ông Trọng đã đợi sẵn vì nhà Thiếu tá Hoàng Cường cách đấy mấy bước chân.

Vào nhà, thấy Thiếu tá Hoàng Cường không lộ cái vẻ gì là mệt mỏi cả, trông ông đã gần 80 mươi nhưng vẫn còn còn quắc thước, đĩnh đạc. Sau một hồi giao đãi đủ chuyện để làn tan băng cái không khí ngại ngần.

Ông Hoàng Cường năm nay 78 tuổi, ông tham gia quân đội từ năm 1950, lúc ông 17 tuổi. Trong thời kỳ chiến tranh chống bành trướng Bắc Kinh, ông là Trợ lý tác chiến của Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Hà Tuyên, lúc đó ông mang hàm Trung úy; ông về hưu năm 1994 với quân hàm Thiếu tá..

Sau đây là những điều mà ông Hoàng Cường đã trao đổi với Blog Phamvietdaonv…

P.V.Đ:

-Thưa bác, là một sĩ quan trợ lý tác chiến của Mặt trận Hà Giang, theo bác vì sao Trung Quốc lại mở những trận đánh lớn tại mặt trận này để nhằm đạt mục đích gì ?

-Thiếu tá Hoàng Cường:

Theo tôi, Trung Quốc chính thức mở mặt trận Hà Giang đầu năm 1984, tập trung quân và phương tiện chiến tranh để đánh những trận đánh lớn chắc không nhằm mục đích chính là để chiếm đất. Có lẽ họ muốn sử dụng địa bàn Hà Giang để thể nghiệm và áp dụng binh pháp mới của họ; Họ muốn biến Hà Giang thành một "cái bẫy", một loại "cối xay thịt" để hút lực lượng ta vào đây để tiêu hao, để trả thù cho những thất bại trong cuộc chiến 1979 của họ…Về phương diện này họ rất giỏi…

Thời gian 1979, Trung Quốc chưa vào Hà Giang mà chỉ vào mạn Lạng Sơn, Cao Bằng…Đến đầu năm 1984 mới mở mặt trận tại Hà Giang khởi đầu bằng việc đánh chiếm một số cao điểm như 1509 ( Trung Quốc gọi là Lão Sơn ), như Núi Bạc ( Trung Quốc gọi là Giả Âm Sơn ) và một số cao điểm xung quanh cửa khẩu Thanh Thủy như Bình địa 400, Bình độ 200… Với lợi thế bất ngờ và hỏa lực áp đảo họ đã đẩy lùi quân ta tại một số cao điểm trong giai đoạn đầu…

Tuy bị bất ngờ tấn công nhưng về phía Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Hà Tuyên lúc đó cũng đã vạch ra các phương án tác chiến đối với các tình huống xấu nhất:

- Phươn án 1 nếu Trung Quốc chiếm Thanh Thủy thì lập tức cho đánh sập dãy lèn đá ở cây số 18; đã cho gài sẵn hàng tấn thuốc nổ ở đây. Nếu Trung Quốc vào được Thanh Thủy thì cho nổ mìn, đánh sập núi cho đá đổ xuống đường, cản xe cơ giới. Vì đây là con đường độc đạo, một bên là lèn đá, một bên là Sông Lô…

 
 
-Phương án 2 nếu mất Thị xã Hà Giang thì sẽ lập phòng tuyến ở Bắc Quang…

Do quan điểm của ta lúc đó là một tấc đất cũng không để mất… Do đó khi bị Trung Quốc đánh bất ngờ, chiếm đất của ta thì chúng ta buộc lòng phải phản công lấy lại…Đó chính là lý do của những trận đánh ác liệt, giằng co trong năm 1984 và 1985, cả hai bên đều chịu nhiều tổn thất…

Trận 12/7/1984 là trận đánh lớn nhất thể hiện quyết tâm giành lại những cao điểm bị mất; chính khi chúng ta ra quyết tâm, chúng ta đã trúng kế của Trung Quốc; về khoản này người Trung Quốc rất giỏi, họ lừa chúng ta lao vào cái "cối xay" của họ…

Sau trận này chúng ta đã rút ra bài học, thay đổi cách đánh; từ sau trận 12/7/1984 chúng ta ít tập trung phát động những chiến dịch lớn lớn bộ binh để giành lại chốt; sau 1985 thì chủ yếu dùng pháp binh để nói chuyện phải trái với Trung Quốc…

Khi dùng pháo binh thì hiệu quả hơn, đỡ thương vong cho bộ đội ta hơn…

P.V.Đ: Trong năm 1985, theo bác có trận nào chúng ta đã đánh trả Trung Quốc đáng chú ý không ? 

Trong năm 1985 vào giai đoạn đó, chúng tôi được cấp trên hoan hỷ báo tin là ta cũng đã lừa được Trung Quốc được một trận. Ta đã dùng mẹo để cuối cùng bằng hỏa lực pháo binh, bắn phá trong một ngày đêm liền. Kết quả theo thông tin chúng tôi được phổ biến, trong một ngày đêm liền bắn phá liên tục, pháo binh của ta đã tiêu diệt, xóa sổ được cả một sư đoàn quân chủ lực của Bắc Kinh?

Sau trận này, quân dân Vị Xuyên được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang…Đánh trận đó theo thông tin mà tôi nắm được là do Sư 313 đánh; Sư 313 sau khi để mất 1509 và chịu nhiều thiệt hại, được củng cố trở lại và tăng cường lực lượng pháo binh và đây là trận ta đã lừa được Trung Quốc…

( Còn lừa như thế nào, tôi có gặng hỏi nhưng ông Hoàng Cường không kể… Đây là thông tin mà tình cờ Thiếu tá Hoàng Cường buột mồm kể ra, không biết có trùng với trận thảm bại của Trung Quốc trong ngày 31/5/1985 tại Cao điểm mà Trung Quốc gọi là 211? Đó là trận do Tướng Túc Nhung Sinh con trai của Đại tướng Túc Dụ cầm quân? Thông tin đã đăng trên blog trong kỳ 22…)

Trở lại trận 12/7/1984, xin hỏi bác, vừa rồi trên blog cháu có đưa ý kiến của một viên sĩ quan pháo binh Trung Quốc cho biết, trong trận 12/7/1984 phía thương vong của phía Việt Nam là 3700 người? Trong khi đó trên mạng Quân sử Việt Nam có thảo luận về ý kiến này và theo một số cựu chiến binh thì có khả năng phía ta thiệt hại khoảng 500 bộ đội ?! Bác bình luận gì về con số này ?

Suy nghĩ một lát, ông Hoàng Cường cho biết:" Con số 3700 thì hơi nhiều nhưng nếu nói ta thiệt hại khoảng 500-600 thì cũng không chính xác. Hơi ít !"

Trong khi đang viết bài này thì một bạn Nặc danh đã để lại một nhận xét mới về bài đăng của bạn MẶT TRẬN VỊ XUYÊN HÀ GIANG 1981-1988: TRẬN STALINGRAD KỲ 26...như sau": "Toi co nguoi chu tung la chinh tri vien tieu doan.Tieu doan truong luc do la ong nguyen song phi hien la pho tong tham muu truong quan doi nhan dan vietnam.Chu toi noi so thuong vong khong toi 3700 nguoi ... duoi 2500 thi co…"

Như vậy, con số 3700 mà viên sĩ quan Trung Quốc đưa trên mạng Trung Quốc không phải là một thông tin xuyên tạc thái quá…

Trở lại những năm tháng đó, tôi gợi thêm một số vấn đề nhưng Thiếu tá Hoàng Cường có vẻ ngần ngại, thoái thác với lý do lâu ngày quên, ngay sổ tay hồi đó nhiều phiên họp cá nhân cũng không được giữ, không được ghi chép. Ông hứa sẽ liên hệ giới thiệu tôi với cấp trên của ông hiện đang ở Hà Giang, để có thê cung câp những thông tín chính xác hơn về những điều mà tôi muốn tìm hiểu…

 

                         Thiếu tá Hoàng Cường ( trái ), ông Nguyễn Tấn Trọng ( phải )

Ông Nguyễn Tấn Trọng thì cho biết, sau khi 2 nước bình thường hóa quan hệ, sau 4 ngày cửa khẩu thông thương, ông đã sang bên Trung Quốc để xem các trận địa của phía Trung Quốc. Theo ông Trọng thì nhiều trận địa pháo của Trung Quốc được đặt trong hầm núi, có đường ray để lúc bắn thì kéo ra, lúc dừng thì đẩy vào trong. Đường ôtô vào tận các trận địa pháo và theo như cựu chiến binh Trung Quốc kể lại thì mỗi khẩu pháo có 3 chiếc xe tiếp đạn…Phía Trung Quốc đã chuẩn bị kỹ càng trước đó cho những trận đánh từ 1984 về sau…

Còn phía ta, theo một số cựu chiến binh của Sư 313 thì chúng ta đã mang cả kachiusa và 6 quả bom bay lên sẵn sàng ăn thua với quân Trung Quốc nếu chúng vào sâu. Theo các cựu chiến bình thì bom bay là tác phẩm của nhà sáng chế Trần Đại Nghĩa, mỗi quả khi nổ có khả năng sát thương trong vòng 2 km2, hiệu quả hơn B.52 của Mỹ. Có điều là chúng ta chưa sử dụng tới vì quân Trung Quốc chỉ loanh quanh trên các cao điểm. Về sau thì họ cũng đã rút về, trả lại Việt Nam…Họ rút hay họ không chịu nổi pháo của ta ?

Ngay cao điểm Núi Bạc, Trung Quốc gọi là Giả Âm Sơn, nơi từng xảy ra nhiều trận giao tranh ác liệt, trước đây quân Trung Quốc đã chiếm, sau đó họ cũng đã rút…